mở đầu cho lịch sử đạo đức mang tính giai cấp. Trong xã hội chiếm hữu nôlệ, đạo đức của giai cấp nô lệ đối lập, đấu tranh gay gắt với đạo đức của giai cấp chủ nô. Tình trạng bạo lực, bất bình đẳng, tham lam.ngày một gia tăng. Giai cấp chủ nô đã tìm mọi thủ đoạn để đàn áp giai cấp nô lệ.
Ănghen đã coi đây là một sự phát triển thụt lùi của đạo đức trong xã hội: "Chính những động cơ hèn hạ nhất, tính tham lam tầm thường, lòng khao khát khoái lạc thô bạo, tính bủn xỉn hèn hạ, nguyện vọng ích kỷ muốn ăn cắp của chung là người cha đỡ đầu cho xã hội văn minh mới, xã hội có giai cấp z 8 chính là thủ đoạn bỉ ổi nhất, trộm cắp, bạo lực, tính xảo quyệt, sự phản bội đã phá vỡ xã hội thị tộc không có giai cấp và đã đưa xã hội đó đến chỗ diệt vong" [1, tr. Sang chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ phong kiến tuy con người đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc của giai cấp chủ nô nhưng những luật lệ hà khắc, những quy định ngặt nghèo đã trói buộc người lao động vào những quan hệ có tính đẳng cấp phong kiến. Thói đạo đức giả, hiếu danh, gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán. đã làm cho một số người mất hết nhân phẩm.
Họ chạy theo địa vị, chức tước để mưu cầu lợi ích riêng cho bản thân và gia đình họ. Chủ nghĩa tư bản ra đời là một bước tiến trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản đã dẫn đến biến đổi của cả hệ thống đạo đức xã hội.Quan hệ hàng hoá-tiền tệ thâm nhập vào tất cả các ngõ ngách xã hội, phá tan những sợi dây đạo đức trói buộc con người.
Ở đây chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tác cơ bản của đạo đức tư sản. Nếu xét về mặt lịch sử thì chủ nghĩa cá nhân tư sản chỉ đóng vai trò tích cực ở buổi bình minh của nó. Nó đã chiến thắng quan hệ đẳng cấp phong kiến dưới khẩu hiệu cách mạng tư sản là tự do, bình đẳng, bác ái. Tuy nhiên, sự bình đẳng ở đây chỉ là sự bình đẳng hình thức chú không phải là bình đẳng trong thực tế cuộc sống xã hội.
Theo Mác và Ăngghen, giai cấp tư sản đã làm cho giữa người với người không có một mối liên hệ nào khác ngoài quan hệ lợi hại trắng trợn và sự giao dịch tiền bạc nhạt nhẽo. Tất cả các hoạt động, cùng với trí tuệ, tình cảm, danh dự và lương tâm con người đều trở thành đối tượng mua bán. Lòng tham không đáy ấy chiếm địa vị thống trị trong gia đình, hoạt động báo chí, khoa học, nghệ thuật và chính trị của giai cấp tư sản. Ở đây vấn đề z 9 công lý và nền đạo đức trong xã hội không được bảo đảm bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm.
Đối lập với đạo đức của giai cấp tư sản là đạo đức vô sản. Theo Ăngghen, đây là nền đạo đức có nhiều yếu tố hứa hẹn nhất, lâu dài và chắc chắn nhất, nền đạo đức tiêu biểu cho tương lai: "Cái gì gọi là tốt đối với giai cấp thống trị, thì cũng phải là tốt đối với toàn xã hội và giai cấp thống trị coi mình đồng nghĩa với toàn thể xã hội" [29, tr. Như vậy, đạo đức không phải là một hiện tượng siêu nhiên thần bí, không phải là một lực lượng áp đặt từ bên ngoài vào xã hội, Đạo đức cũng không phải là sản phẩm chủ quan của con người mà trước hết là do yêu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất, trong phân phối sản phẩm cũng như trong đấu tranh để sinh tồn và phát triển. Đạo đức trong mỗi chế độ xã hội không nhất thành bất biến như nhau mà phụ thuộc vào từng thời đại, từng giai cấp, từng dân tộc.
Ănghen đã khẳng định: "Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện, ác đã biến đổi nhiều khi tới mức chúng trở thành trái ngược nhau" [31,tr. Tuy nhiên, đạo đức có tính độc lập tương đối của nó, nó tác động tích cực trở lại đối với tồn tại xã hội, nó có vai trò rất to lớn trong đời sống xã hội. Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi hình thành cho tới nay đã khẳng định vai trò rất to lớn của đạo đức trong việc duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội. Việc xã hội phát triển nhanh hay chậm, tiến bộ hay thụt lùi, suy cho cùng là do bản thân con người có nhận thức đúng đắn các quy luật hay không, có hướng hoạt động của mình phù hợp với quy luật hay không.
Nhìn chung trong xã hội con người luôn có nhu cầu hướng tới những giá trị đạo đức tốt đẹp như cái thiện, cái nhân đạo, cái trung thực, làm tròn các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội. Những giá trị đạo đức đó khi đã được hình thành ở mỗi con người thì sẽ có tác động trở lại đối với xã hội theo chiều hướng tích cực. Do z 10 đó, đạo đức đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng nên một cuộc sống tốt đẹp cho xã hội. Nó quyết định thái độ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân, với mọi người.
Quá trình phát triển của lịch sử xã hội, đạo đức trở thành một mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển đất nước. Có thể phân tích vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội thông qua các chức năng cơ bản sau: - Chức năng điều chỉnh hành vi: Loài người đã có nhiều những phương thức điều chỉnh mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội như phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức. tất cả các phương thức điều chỉnh ấy đều chỉ ra giới hạn được phép và không được phép trong hành vi của mỗi cá nhân, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các lợi ích. Như vậy, đạo đức là một trong những phương thức để điều tiết hành vi hoạt động của mỗi con người.
Thực tế đời sống xã hội rất đa dạng và phức tạp. Trong xã hội thường tồn tại đan xen giữa cái tốt và cái xấu, cái cao cả với cái thấp hèn, người có đức hạnh và kẻ vô lương tâm. Trong các mối quan hệ xã hội thì cũng rất đa dạng và nhiều vẻ. Có những mối quan hệ thuận nhưng cũng có mối quan hệ nghịch, đôi khi rất khó trong việc quyết định, nên phải dựa vào nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội để có những hành vi đối xử đúng đắn.
Điều đó chứng tỏ, cá nhân bao giờ cũng phải lấy những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh hành vi đạo đức của mình. Thực hiện chức năng này, mỗi cá nhân sẽ luôn cảm thấy được thoải mái trong lương tâm, ngay cả trong trường hợp mối quan hệ có những vấn đề mâu thuẫn. Trong xã hội, mặc dù đã có hệ thống pháp luật của nhà nước để điều chỉnh hành vi của con người, song trong thực tế thì pháp luật không thể nào bao quát đựơc hết mọi hành vi của con người mà phải thông qua những nguyên tắc, những chuẩn mực z 11 đạo đức. Đây là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi của con người.
Nó có vai trò rất quan trọng và cần thiết trong đời sống xã hội. Xã hội muốn ổn định và phát triển, thì đòi hỏi tính tự nguyện, tự giác trong việc áp dụng những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức ngày càng cao. Những chuẩn mực đó đã giúp cho con người điều chỉnh ý chí và hành động của mình nhằm đáp ứng những yêu cầu chung của nền đạo đức xã hội. Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện chủ yếu bằng hai hình thức sau: Thứ nhất: Sử dụng sức mạnh của dư luận xã hội để gây áp lực khen, chê,động viên, khuyến khích những chủ thể có đạo đức, có những hành vi tốt đẹp.
Phê phán, lên án nghiêm khắc những hành vi không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu tới mọi người và xã hội. Dân tộc ta đã có câu "Trăm năm bia đá thì mòn. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Dư luận xã hội đã trở thành công cụ lợi hại trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức.
Do đó, nếu dư luận xã hội được hướng dẫn bởi những học thuyết đạo đức tiên tiến, sẽ góp phần điều chỉnh những hành vi đạo đức của con người phù hợp với sự tiến bộ xã hội, tạo nên những giá trị đạo đức đích thực. Thứ hai: Bản thân chủ thể đạo đức phải tự nguyện, tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tích cực tham gia hoạt động tập thể để mau chóng trưởng thành, vững vàng về tư tưởng. Khi các chuẩn mực đạo đức xã hội đã được các chủ thể tiếp thu sẽ tạo thành những chuẩn mực cá nhân.
Nếu các chuẩn mực cá nhân, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, nó sẽ trở thành cơ sở khách quan, làm cho hành vi đạo đức của cá nhân phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận xã hội đồng tình ủng hộ. Nếu các chủ thể thiếu đi sự nhiệt tình, cố gắng của bản thân, không thực hiện được một quan hệ đạo đức nào đúng với những chuẩn mực cá nhân thì lương tâm họ bị cắn rứt. Họ luôn cảm thấy ân hận, xấu hổ về những hành vi z 12 của mình. Ngược lại, mỗi khi họ thực hiện được những quan hệ đạo đức đúng đắn như những chuẩn mực đạo đức đã được hình thành trong họ thì lương tâm họ cảm thấy thoải mái, thanh thản, họ tự hào về hành vi của mình.
z 13 - Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của đạo đức là để hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc, những chuẩn mực của đạo đức cho con người. Nó giúp cho con người có khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội. Từ đó đánh giá đựơc tư cách, ý thức và hành vi của bản thân mình.