Phần mở đầu; nội dung; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. Footer Page 17 of 107. 9 Header Page 18 of 107.
Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN - SINH VIÊN 1. Một số khái niệm 1. Đạo đức Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những nguyên lý, quy tắc chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng. Theo Từ điển Tiếng Việt, đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội.
Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là “mos”, “moris”, nghĩa là phong tục, tập quán. Đạo đức còn có gốc từ tiếng Hy Lạp là “ethicos”, cũng có nghĩa là thói quen, tập quán. Như vậy, khi nói đến đạo đức là nói đến những thói quen, tập quán sinh hoạt và ứng xử của con người trong quan hệ cộng đồng, xã hội. Thời phong kiến ở phương Tây, tư tưởng đạo đức thường xuất phát từ những tín điều trong Kinh thánh (Thiên chúa giáo) và có tác dụng nhất định trong việc điều chỉnh hành vi con người.
Ở phương Đông, tư tưởng Đức trị được đề cao từ thời Xuân thu, thể hiện trong Tứ thư, Ngũ kinh mà người đề xướng đầu tiên là Khổng tử. Theo các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại, đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo.
Footer Page 18 of 107. 10 Header Page 19 of 107. Từ tầng lớp thị dân thời phong kiến, một giai cấp mới hình thành, đó là giai cấp tư sản. Với các cuộc phát kiến địa lý, các phát minh mới về công nghệ, với cuộc cải cách tôn giáo, với sự xuất hiện những thành tựu huy hoàng trong văn học - nghệ thuật, giai cấp tư sản dần dần chiếm lĩnh vũ đài chính trị, tạo ra các cuộc cách mạng tư sản, đưa nhân loại vào thời đại của văn minh Tư bản chủ nghĩa.
Đạo đức tư sản ra đời là một nấc thang, một sự tiến bộ vượt xa đạo đức phong kiến. Nó đã kiên quyết chống lại đạo đức phong kiến - tôn giáo, đồng thời nhiệt thành đề cao tự do cá nhân trong lĩnh vực đạo đức. Nhưng khi giai cấp tư sản đã củng cố được địa vị của mình thì với quan hệ tư hữu tư bản chủ nghĩa và quan hệ thị trường theo cơ chế bóc lột giá trị thặng dư, đạo đức tư sản và hệ tư tưởng luân lý của nó đã nhanh chóng bỏ rơi những lý tưởng đạo đức đích thực được nêu ra lúc ban đầu. Lịch sử và hiện trạng đạo đức tư sản đã và đang xác nhận: giữa lý luận luân lý tư sản và hiện thực đạo đức tư sản càng ngày càng cách xa nhau, trái ngược nhau.
Nguyên tắc đạo đức lúc này là chủ nghĩa cá nhân tư sản. Cơ sở kinh tế của nguyên tắc đạo đức đó là quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được nhà nước tư sản bảo vệ. Sự ra đời và phát triển của đạo đức học mác - xít thực sự đã tạo nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực đời sống đạo đức xã hội. Theo Mác và Ăngghen, đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người.
Đạo đức học mác - xít phủ nhận ất cả những quan điểm cho rằng đạo đức đứng trên và đứng ngoài lịch sử xã hội loài người. Đạo đức chỉ có thể bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống của chính con người và phục vụ trở lại cuộc sống đó. Đi tìm lời giải về nguồn gốc, bản chất của đạo đức từ chính đời sống lao động của con người là cách tiếp cận khoa học nhất của đạo đức học mác - xít mà các quan điểm trước đây không có được.Ănghen cho rằng: “Chung qui lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ”[32, tr. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức xét đến cùng là sự phản ánh của các Footer Page 19 of 107.
11 Header Page 20 of 107. quan hệ xã hội. Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người. “Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động”[59, tr.Ăngghen là những người đầu tiên nêu ra khái niệm đạo đức vô sản.Lênin là người đầu tiên nêu ra khái niệm đạo đức cộng sản.
Bàn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa, Lênin cho rằng: “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản”[58, tr. Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới. Đạo đức Hồ Chí Minh Trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống, tinh hoa nhân loại, đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiến hành một cuộc cách mạng về đạo đức ở Việt Nam, khởi xướng xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng. Đó là các chuẩn mực, giá trị đạo đức hướng tới giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, đưa lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: "Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người"[12, tr. Vai trò của đạo đức cách mạng: Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là cái gốc của người cách mạng: “Sức có mạng mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Footer Page 20 of 107. 12 Header Page 21 of 107. Đạo đức còn là thước đo lòng cao thượng của con người: “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng” [15, tr. Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản.
Khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Về nội dung của đạo đức cách mạng, Người chỉ rõ: “Quyết tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư - đó là đạo đức cách mạng” [tập 15, tr. “Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [17, tr. Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng.
Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [17, tr.603] Footer Page 21 of 107. 13 Header Page 22 of 107. “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu” [17, tr.
Nhận thức được vai trò to lớn của đạo đức, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, trong thời đại mới con người Việt Nam phải có những chuẩn mực đạo đức cách mạng: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng… Đây là vấn đề được Hồ Chí Minh đề cập một cách thường xuyên, nhiều nhất. Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Hồ Chí Minh đã mở rộng, đưa vào đây những nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng. Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo.
Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói với làm, giữa lý luận với thực tiễn, suy nghĩ với hành động, việc công với đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức đời thường. Vì thế, Người đã trở thành biểu tượng, là tấm gương sáng ngời về đạo đức. Giáo dục đạo đức Khái niệm giáo dục: cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”: Các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều cho rằng giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người. Footer Page 22 of 107.
14 Header Page 23 of 107. Giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội.