phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết. Điều kiện lịch sử - xã hội và tiền đề hình thành tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Khuyến học”. Nội dung, đặc điểm và giá trị tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Khuyến học”. 18 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI TRONG TÁC PHẨM “KHUYẾN HỌC” Ý thức, tư tưởng luôn chịu sự tác động, quy định của tồn tại xã hội.
Vì vậy, tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Khuyến học” trước hết bị phản ánh và bị chi phối bởi bối cảnh quốc tế cũng như hoàn cảnh xã hội Nhật Bản giữa thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Mặt khác, ý thức lại có tính độc lập tương đối nên quá trình hình thành tư tưởng của ông còn thể hiện những yếu tố về phẩm chất cá nhân, có sự kế thừa từ truyền thống gia đình và quê hương. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA FUKUZAWA YUKICHI TRONG TÁC PHẨM “KHUYẾN HỌC” 1. Điều kiện lịch sử - xã hội của thế giới và khu vực Đông Á cho sự hình thành tƣ tƣởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Khuyến học” Từ giữa thế kỷ XVI, hệ thống chính trị tư sản từng bước được thiết lập ở các nước phương Tây và phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XIX nhờ vào sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, kỹ thuật.
Điều này đã tạo ra sự biến đổi một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và khoa học, tác động mạnh mẽ đến các quốc gia trên thế giới, trong đó có Nhật Bản. Các nước tư bản từng bước hoàn thành cách mạng công nghiệp, đi đầu là Anh, đánh dấu bước chuyển từ sản xuất nhỏ chủ yếu dựa trên lao động thủ công sang sản xuất lớn dựa trên nền đại công nghiệp cơ khí, mở rộng phân công và hợp tác lao động, tập trung và chuyên môn hóa sản xuất cao, làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ. Đánh giá về sự phát triển của nền kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và vai trò của nó trong quá trình phát triển lịch sử loài người, C. Ăngghen đã viết: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều 19 hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” (C.
Ăngghen, tập 4, 1995, tr. Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ tạo nên bước chuyển biến quan trọng về quan hệ sản xuất, làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trở thành mâu thuẫn cơ bản và ngày càng gay gắt trong lòng xã hội tư bản. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây gắn liền với quá trình xâm lược mở rộng lãnh thổ ở các châu lục chậm phát triển. Đặc biệt khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc thì các thuộc địa càng có vai trò quan trọng đối với sự sinh tồn của chủ nghĩa tư bản.
Vì vậy, từ giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức, Mỹ ráo riết đẩy mạnh quá trình thực dân hóa và tiến hành chia lại thị trường thế giới. Châu Á là khu vực có nguồn lao động và tài nguyên phong phú, là thị trường màu mỡ và tiềm năng nên tất nhiên trở thành đối tượng được nhiều nước tư bản dòm ngó. Bằng việc gây áp lực, các quốc gia châu Á và một số quốc gia kém phát triển khác đã lần lượt trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nước chính quốc. Thực dân Anh chiếm Malaysia, Myanmar; thực dân Pháp chiếm ba nước Đông Dương; Tây Ban Nha sau đó là Mỹ chiếm Philippines; Hà Lan thôn tính Indonesia; riêng Thái Lan thoát khỏi nước thuộc địa.
Tùy tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia mà thực dân thực hiện chính sách cai trị, song nhìn chung các quốc gia này vừa là thị trường tiêu thụ hàng hóa, vừa là nơi để thực dân vơ vét của cải. Riêng tại khu vực Đông Á, triều đình Mãn Thanh Trung Quốc phải ký hiệp ước Nam Kinh với Anh vào năm 1842 và đến năm 1895 Trung Quốc cũng bị các cường quốc thực dân thôn tính và mất chủ quyền, còn Triều Tiên cũng đối mặt với sự o ép của các thế lực ngoại bang và nguy cơ bị ngoại xâm ngày một hiện hữu. Trong khi đó, ở Nhật Bản, sau thời gian dài thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, họ đang chịu sức ép nặng nề từ các nước tư bản phương Tây mà đi đầu là Mỹ. Mỹ đã đưa ra nhiều quyết sách, thậm chí là dùng sức mạnh quân sự để yêu cầu Nhật Bản phải mở cửa, thông cảng, cho tàu thuyền của nước ngoài 20 được cập bến và tiến hành buôn bán tại quốc gia này.
Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, các nước tư bản phương Tây hầu hết đều gây ảnh hưởng và từng bước thực hiện xâm lược với hầu hết các quốc gia châu Á. Trong tác phẩm Phúc Ông tự truyện, Fukuzawa Yukichi (2017) đã cảnh báo về hiện trạng này rằng: Bất cứ nơi nào mà người châu Âu chạm tới, đất đai sẽ khô cằn, cây cối sẽ không thể sinh trưởng. Đôi lúc, toàn bộ dân cư ở đó sẽ bị xóa sổ. Ngay khi ai đó nhận ra được những điều đó và rằng Nhật Bản cũng là một nước phương Đông, thì dù chúng ta vẫn chưa bị các mối quan hệ ngoại giao đó gây tổn thất gì, thì chúng ta nên bắt đầu cảnh giác với điều tồi tệ nhất sẽ tới.189) Khi xâm lược các nước thuộc địa, chủ nghĩa tư bản đã làm cho nền kinh tế của các nước này trở nên kiệt quệ, phá vỡ quan hệ kinh tế, các quan hệ xã hội truyền thống nhưng không mang tính cách mạng triệt để mà mang tính nửa vời, áp đặt, đời sống nhân dân càng trở nên khó khăn.
Tuy nhiên, bên cạnh những hệ quả tiêu cực thì chủ nghĩa tư bản đã đưa đến những hệ quả tích cực nằm ngoài ý muốn. Đó là phương thức sản xuất mới đã phá vỡ các quan hệ sản xuất cũ, tạo nên sự phát triển các cơ sở vật chất, kỹ thuật, sự ra đời của các ngành nghề mới, xóa bỏ chế độ bế quan tỏa cảng ở các quốc gia phong kiến; các nước phong kiến bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ, tư tưởng pháp quyền, khoa học – công nghệ phương Tây. Những yếu tố đó mang tính chất xây dựng, góp phần phát triển xã hội, làm cho các nước phương Đông có điều kiện hội nhập, phát triển cùng thế giới. Có thể nói, sự thay đổi của phương thức sản xuất và hệ quả của nó đã góp phần làm chuyển biến tư tưởng, thức tỉnh các dân tộc phương Đông chuyển mình theo xu thế của thời đại.
Như vậy, trước sự tấn công với vũ khí hiện đại của phương Tây, thành trì phong kiến hàng ngàn năm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác thức tỉnh. Đặc biệt là tầng lớp trí thức phong kiến bắt đầu nhận thấy rằng thế giới rộng lớn ngoài kia đang có sự tiến bộ vượt bậc cả về kỹ thuật quân sự, khoa học tự nhiên và những tư tưởng nhân văn, tự do, dân chủ về 21 chính trị - xã hội; trong khi các quốc gia phong kiến lại vẫn duy trì những quy chế lạc hậu, bảo thủ. Sự thức tỉnh này khiến các trí thức phương Đông dần tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ phương Tây. Vì vậy, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa diễn ra liên tục, với sự đa dạng, phong phú về khuynh hướng, hình thức đấu tranh như phong trào đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến, khuynh hướng tư sản, khuynh hướng vô sản.
Điển hình là Trung Quốc, đến đầu thế kỷ XIX, nhằm tự vệ trước phong trào thực dân hóa của các quốc gia phương Tây, Trung Quốc đã đóng cửa đất nước. Tuy nhiên, nhận định rằng đây là thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hóa, vơ vét của cải nên thực dân phương Tây đã tìm mọi cách xâm nhập bằng việc buôn bán thuốc phiện. Hậu quả là, sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân đã tàn phá nền kinh tế Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc nhất là nông dân chịu mọi hậu quả nặng nề của chính sách nô dịch.
Đây là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc nổi dậy liên tiếp của nông dân chống lại triều đình Mãn Thanh (tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc, 1851 - 1864). Trước sức ép của đế quốc và nỗi lo sợ phong trào nổi dậy của quần chúng nông dân, chính quyền Mãn Thanh ngày càng cấu kết với đế quốc. Lợi dụng tình hình đó, các nước đế quốc cũng tìm mọi cách để mở rộng quá trình xâm nhập và chia cắt Trung Quốc. Việc đặt mối quan hệ giao thương với các quốc gia phương Tây đã tạo ra những cơ sở ban đầu cho kinh tế tư bản chủ nghĩa, trong chừng mực nhất định đã có thể cạnh tranh với hàng ngoại.
Trong xã hội bắt đầu xuất hiện các trào lưu tư tưởng cải cách, duy tân đất nước nhằm thoát khỏi vòng nô lệ. Cũng chính lúc này, một bộ phận thức thời trong giai cấp thống trị đã nhận thức được yêu cầu của thời cuộc, vận mệnh của dân tộc trước nguy cơ xâm lược của phương Tây – đây là điều kiện tất yếu làm nảy sinh phong trào “Dương vụ” (diễn ra từ những năm 60 đến những năm 90 của thế kỷ XIX). Phong trào này diễn ra trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, quân sự đến văn hóa, giáo dục,… Một số nhà nghiên cứu lại nhận định phong trào này thực chất là biện pháp tình thế, “tự cứu” mình của giai cấp phong kiến. Mặc dù vậy, không thể phủ 22 nhận những tác động tích cực của nó, phong trào này đã góp phần làm chuyển biến một bộ phận giai cấp phong kiến, góp phần đưa Trung Quốc bước vào quá trình cận đại hóa đất nước.
Trước sự biến đổi của thế giới và khu vực, Nhật Bản thực hiện chính sách mở cửa khi thực dân phương Tây đến đặt quan hệ giao thương. Quyết sách mở cửa của Nhật Bản không phải là hành động nhất thời, bị động mà dựa trên nền tảng của sự biến đổi kinh tế - xã hội và những nhận thức quốc tế mới của chính quyền Mạc Phủ.