CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ 1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THỜI XUÂN THU 1. Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu Vào năm 774 Trước Công Nguyên, vua Chu U vương đã phế bỏ hoàng hậu họ Thân và sắc phong Bao Tự làm hoàng hậu. Cha của hoàng hậu họ Thân, là Thân Hầu, vì tức giận đã liên kết với giặc Tây Nhung, một bộ tộc phía tây nhà Chu, họ tấn công, tàn phá kinh đô giết hại vua Chu, sau đó các tông thất bổ nhiệm thái Tử Nghi Câu làm vua mới với tên gọi Chu Bình Vương (năm 771 TCN).
"Năm 770 TCN, vua Bình vương nhà Chu vì sợ người Khuyển Nhung sang quấy nhiễu đã phải rời bỏ đất Kiểu kinh, thiên đô về Lạc Dương, và cũng từ đó, nhà Chu suy yếu, các chư hầu mạnh lên, lấn quyền thiên tử. thời gian này được các sử sách gọi là Đông Chu – vì kinh đô Lạc Dương ở phía Đông, so với Kiểu Kinh – và được chia thành hai thời kỳ: Xuân Thu và Chiến Quốc." (Chu Hy, 1998, tr. Nhà Chu từ bỏ đất tổ Quan Trung và nhượng lại cho Tần Tương Công của nước Tần, và xã hội Trung Quốc bước vào một thời kỳ mới, được gọi là thời kỳ Xuân Thu, còn gọi là thời Đông Chu để phân biệt với thời tây Chu. "Thời Xuân Thu (722 tới 481 TCN).
Cách xác định thời gian này dựa vào quấn sư biên niên của nước Lỗ, do khổng Tử ghi chép, gọi là kinh Xuân Thu, chép thừ thời Lỗ Ẩn công năm đầu, tới Lỗ Ai công năm thứ mười bốn" (Chu Hy, 1998, tr. Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, kéo dài từ năm 770 Trước Công Nguyên đến năm 221 Trước Công Nguyên, là một giai đoạn lịch sử đầy biến 9 động trong xã hội Trung Quốc cổ đại, đồng thời là thời kỳ diễn ra các sự thay đổi toàn diện trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Sự biến đổi sôi động trong thời kỳ này đặc biệt được thể hiện trên phạm vi kinh tế. Trong quá trình phát triển xã hội của con người, mỗi phát minh đột phá trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật đều có ảnh hưởng lớn đến xã hội và tạo nên sự thay đổi đáng kể trong lối sống, tư tưởng và tâm hồn của con người.
Các phát minh này đã đóng góp quan trọng vào sự tiến bộ của nền văn minh và đã giúp con người tiến bước vào những giai đoạn phát triển mới. “Ở Trung Hoa, sự xuất hiện của đồ đồng đã đánh dấu bước đầu văn minh đời Thương; rồi khoảng 1200 năm sau, sự xuất hiện của đồ sắt còn quan trọng hơn nhiều, chỉ trong khoảng 250 năm, làm cho xã hội Trung Hoa xáo trộn về mọi phương diện…” (Nguyễn Hiến Lê, 2006, tr. Sự xuất hiện của công cụ được làm bằng sắt có thể được xem là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất. Việc sử dụng sắt như một công cụ đã đem lại những tiến bộ đáng kể trong việc tăng năng suất lao động thông qua việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
Với việc sử dụng đồ sắt trong chế tác công cụ sản xuất, giúp cho nông dân có thể khai khẩn đất hoang mà trước kia chưa thể vì không thuận lợi và biến những vùng đất đai tự nhiên thành đồng ruộng canh tác. Kết quả của việc sử dụng công cụ bằng sắt là mở rộng diện tích đất canh tác và xây dựng hệ thống thủy lợi rộng khắp. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, kỹ thuật canh tác nông nghiệp trong thời kỳ này đã được cải tiến một cách đáng kể, với sự tích lũy tri thức ngày càng phong phú và hiệu quả.
Ví dụ, người ta đã chia đất đai của công xã thành ba cấp dựa trên độ phì nhiêu: thượng, trung và hạ, và mỗi cấp được chia thành sáu loại với giống cây trồng mà chúng phù hợp với từng loại đất. Điều này đã giúp mở rộng diện tích đất đai và cải tiến kỹ thuật trồng trọt, đồng thời tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp. 10 Tồn tại xã hội được coi là cơ sở quyết định đối với mọi sự thay đổi xã hội. Do đó, khi sức sản xuất phát triển đạt đến một mức độ nhất định, nó trở thành nguyên nhân trực tiếp cho sự thay đổi của các quan hệ sản xuất truyền thống trước đó, đặc biệt là quan hệ sở hữu ruộng đất.
Trong thời kỳ Tây Chu, giai cấp quý tộc chủ nô kiểm soát hầu hết tài nguyên xã hội, bao gồm cả lao động nô lệ và ruộng đất. Tuy nhiên, trong thời Xuân Thu, công xã đã chuyển giao đất công cho từng gia đình nông dân để chịu trách nhiệm canh tác trong một thời gian dài. Điều này cho phép nông dân áp dụng các phương pháp canh tác bền vững hoặc luân canh để tăng năng suất cây trồng. Đồng thời, sự phát triển của công cụ sản xuất và hệ thống thủy lợi đã mở rộng diện tích ruộng đất của nông nô, từ việc ruộng đất hoang trở thành ruộng đất sử dụng tư nhân ngày càng tăng.
Sự chia rẽ và phân hóa về sở hữu đất công vẫn diễn ra mạnh mẽ. Một phần đất công đã được chuyển nhượng cho các thương nhân giàu có, trong khi một phần khác được cấp cho các tướng lĩnh có công và một phần thuộc về các quý tộc như ruộng tư của công xã. Ngoài ra, đất tự nhiên được khai mở đã trở thành tài sản của những nông dân tự do. Điều này dẫn đến sự hình thành một tầng lớp dân tự do mới.
Trong thời kỳ Xuân Thu, khi diện tích đất canh tác ngày càng mở rộng và kỹ thuật trồng trọt được cải tiến, người ta đã nhận thấy rằng việc chia lại ruộng đất công theo định kỳ dựa trên đất tốt hay đất xấu không còn cần thiết nữa. Sự phát triển đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, nhờ sự xuất hiện của các công cụ bằng sắt, đã tạo điều kiện cho một sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ sản xuất cổ truyền. Trong thời kỳ này, ruộng đất được quản lý và phân phối theo chế độ “tỉnh điền”. Theo chế độ này, mảnh đất ruộng được chia thành 9 ô theo hình chữ “tỉnh”.
Nông dân cày cấy trên 8 ô xung quanh có trách nhiệm đóng góp lao động của ô giữa, và sau đó chia sẻ lợi ích sản phẩm thu hoạch đó với triều đình. Tuy 11 nhiên, chế độ này đã trở thành cản trở cho sản xuất và không còn phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trong thời Xuân Thu. Chế độ tư hữu ruộng đất đã ra đời và phát triển, tạo ra sự chênh lệch về sở hữu đất ruộng giữa các nông dân. Nhà nước đã áp dụng một hình thức thuế mới, được gọi là “thuế sơ mẫu”, áp dụng trên từng mẫu ruộng nhằm thay thế hình thức thuế trước đó.
Điều này dần thay thế chế độ “tỉnh điền” và góp phần thay đổi cảnh quan xã hội, khiến giai cấp địa chủ phong kiến nổi lên thay thế giai cấp quý tộc chủ nô. Trong lịch sử Trung Quốc, chế độ “tỉnh điền” là một hình thức sở hữu đất đai chủ yếu dựa trên quan hệ nông dân và chư hầu. Theo đó, nông dân phải cống nạp gạo, thóc, vải và thú quý hiếm cho chư hầu và thiên tử. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển công cụ sản xuất và kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền”, nông dân đã tìm cách khai thác đất hoang để tăng sản xuất.
Những phần đất này đã trở thành tài sản của những nông dân tự do. Tuy nhiên, các thương gia giàu có cũng đã tập trung đất đai vào tay mình để tăng quyền lực. Điều này đã tạo ra chế độ tư hữu đất đai và gây ra sự phân hóa giai cấp trong xã hội. Giai cấp địa chủ đã được hình thành từ tầng lớp thương nhân giàu có.
Khi chế độ tư hữu được bảo vệ quyền sở hữu bởi pháp luật, quan hệ sản xuất truyền thống đã đến kỳ thoái trào và tan rã. Cũng vì vậy, tới thời Xuân Thu vai trò của giai cấp quý tộc và công khanh, đại phu nhà Chu đã dần mất đi trong dòng lịch sử Trung Quốc. Về trình độ của thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Trong thời Xuân Thu, công nghệ sản xuất đã được cải tiến đáng kể bằng việc chuyển từ sử dụng đồ đồng sang đồ sắt trong sản xuất công cụ lao động. Sự xuất hiện của công cụ bằng sắt trong thời kỳ này đã được chứng minh thông qua nhiều tài liệu khác nhau.
Chẳng hạn, trong bài thơ Tứ Thiết, phần Tần Phong trong Kinh Thi, đã ghi nhận về sự xuất hiện của sắt với câu “Bốn con ngựa màu sắt rất béo”. Ngoài ra, tác giả Hầu Ngoại Lư trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Trung Quốc cũng đã cung cấp hàng loạt dẫn chứng khẳng định sắt đã xuất hiện trong thời kỳ này. Kinh Thư cũng ghi lại lễ vật được tiến cống lên vua Đại Vũ tới từ Châu Lương 12 (nay là tỉnh tứ xuyên) trong đó có sắt là mặt hàng cống phẩm thượng hạng và rất được xem trọng “Những đồ cống hiến là: ngọc cầu, sắt, bạc, đá làm mũi cái tên để bắn và cái kháng bằng đá” (Khổng Tử, 1965, tr. Mặc dù giá trị của những tài liệu này còn tùy thuộc vào thời đại, nhưng chúng vẫn là những chứng cứ cho thấy sắt đã xuất hiện trong thời Xuân Thu và phát triển trong thời Chiến Quốc.
Tới thời kỳ Xuân Thu, sự ra đời của sắt được xem là một bước tiến vượt bậc trong công cụ sản xuất, đi kèm với đó là sự phát triển của các ngành nghề liên quan như thủ công nghiệp và thương nghiệp, trong khi nông nghiệp đang tiến tới sự chuyên môn hóa cao. Trước đó, đồ đồng đã được chế tác rất nhiều từ thời kỳ Xuân Thu trở đi, nghề đúc đồng thau đã được cải tiến đáng kể, với những hình dáng thanh thoát và trang trí đẹp mắt. Ngoài ra, các nghề thủ công khác như rèn, đúc, mộc, làm đồ gốm, đồ đá, đồ ngọc, đồ xương, đồ da, nghề dệt. cũng đã có những đóng góp mới và tiến bộ đáng kể trong thời kỳ này.
Trong thời kỳ Xuân Thu, các sản phẩm thủ công mang phong cách truyền thống đã được kết hợp với nghệ thuật để tạo ra những sản phẩm mới mẻ và sinh động. Các đồ dùng sinh hoạt được khảm vàng, bạc để tạo ra vẻ đẹp sang trọng.