Tổng quan luận án

Hoạt động giáo dục pháp luật (GDPL) giữ vị trí nền tảng trong chiến lược xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, thực hiện đầy đủ các cam kết với Cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), yêu cầu nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, trở nên cấp thiết. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã nhấn mạnh mục tiêu: "Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển... tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật". Đồng thời, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định GDPL là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý xã hội bằng pháp luật.

Mặc dù có khuôn khổ pháp lý và chính sách rõ ràng, hoạt động GDPL cho học sinh trung học phổ thông (THPT) trên thực tế còn thiếu tính đồng bộ và chưa đáp ứng đầy đủ đòi hỏi của đời sống xã hội. Tình trạng học sinh vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết vẫn diễn biến phức tạp. Tại các đô thị lớn như thành phố Hà Nội, nơi có mật độ dân số cao và chịu tác động mạnh mẽ từ mặt trái của cơ chế thị trường, tỷ lệ vi phạm pháp luật ở lứa tuổi học sinh có chiều hướng gia tăng. Học sinh THPT là nhóm đối tượng mang tính chất "chuyển tiếp" hay "bản lề" giữa môi trường học đường và xã hội; sau khi rời ghế nhà trường, các em trực tiếp tham gia vào thị trường lao động hoặc tiếp tục học tập với tư cách là công dân có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý. Do đó, nếu không được trang bị tri thức và kỹ năng pháp lý toàn diện, xã hội sẽ phải đối mặt với nhiều hệ lụy lớn.

Trong khi các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận GDPL ở góc độ lý luận chung hoặc trong phạm vi các trường đại học, cao đẳng, thì mảng đề tài nghiên cứu chuyên sâu về GDPL cho nhóm học sinh THPT gắn liền với bối cảnh đặc thù của địa bàn thủ đô Hà Nội vẫn còn khoảng trống lớn. Luận án "Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông từ thực tiễn thành phố Hà Nội" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hương, thuộc chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính (Mã số: 9380102), do PGS. Vũ Công Giao hướng dẫn khoa học tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật và thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:
Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học nhằm tăng cường hoạt động giáo dục 
pháp luật cho học sinh THPT ở thành phố Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, 
đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Để đạt được mục tiêu tổng quát, tác giả xác lập năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài luận án.
  2. Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về GDPL cho học sinh THPT ở Việt Nam hiện nay, bao gồm khái niệm, yếu tố cấu thành, vai trò, đặc thù, các yếu tố tác động và kinh nghiệm quốc tế có giá trị tham khảo.
  3. Phân tích, đánh giá khuôn khổ chính sách, pháp luật hiện hành về GDPL cho học sinh THPT trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế.
  4. Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động GDPL cho học sinh THPT tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 10 năm (2007–2017), chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân.
  5. Nhận diện các yêu cầu cấp thiết, từ đó đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp tăng cường hoạt động GDPL cho học sinh THPT tại Hà Nội và cả nước.

Luận án đặt ra một câu hỏi nghiên cứu xuyên suốt: Cần phải làm gì để tăng cường giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội hiện nay?

Đi kèm với đó là bốn câu hỏi nghiên cứu cụ thể tương ứng với các chương:

  • (1) Vì sao giáo dục pháp luật lại cần thiết cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay?
  • (2) Giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông có những đặc điểm và yêu cầu gì đặc thù so với giáo dục pháp luật nói chung?
  • (3) Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội hiện nay như thế nào?
  • (4) Phương hướng, giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội nói riêng, ở nước ta nói chung trong thời gian tới là gì?

Giả thuyết khoa học: Hoạt động GDPL cho học sinh THPT ở thành phố Hà Nội đã được triển khai và đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tồn tại này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, chủ yếu liên quan đến nội dung, phương pháp và chủ thể giáo dục. Do đó, để tăng cường GDPL cho học sinh THPT tại Hà Nội, cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trọng tâm là cải cách nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục nhằm phù hợp với đặc thù tâm sinh lý và địa vị pháp lý của nhóm đối tượng sắp trưởng thành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn của hoạt động GDPL cho học sinh THPT tại thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào hoạt động GDPL cho học sinh THPT trong môi trường nhà trường, gắn liền với chủ thể chính là đội ngũ giáo viên, kết hợp với vai trò của tổ chức Đoàn, Hội và các câu lạc bộ học đường.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội; các tư liệu về địa phương khác và quốc tế chỉ mang tính đối chiếu, tham chiếu.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát, đánh giá thực tiễn trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo hai nguồn chính: các công trình học thuật trong nước và các nghiên cứu tiêu biểu của học giả quốc tế.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Các công trình trong nước đã giải quyết nhiều khía cạnh từ lý luận đến thực tiễn về GDPL:

Nhóm vấn đề Tác giả & Công trình tiêu biểu Luận điểm chính được tác giả luận án kế thừa
Lý luận, khái niệm và mục đích GDPL - Lê Văn Hoè (2002), Nâng cao hiệu quả GDPL trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
- Trần Ngọc Đường, Dương Thị Thanh Mai (1995), Bàn về GDPL
- Phan Hồng Dương (2014), GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật
- Đinh Xuân Thảo (1996), GDPL trong trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay
- Nguyễn Khắc Hùng (2011), Phương pháp GDPL và giáo dục kỹ năng sống trong trường học
- Phân biệt khái niệm GDPL theo nghĩa rộng (tổng thể các tác động khách quan, chủ quan) và nghĩa hẹp (hoạt động có định hướng, có tổ chức).
- Xác lập 3 mục đích kết nối hữu cơ của GDPL: nhận thức tri thức, bồi dưỡng cảm xúc/động cơ và hình thành thói quen hành vi tích cực.
GDPL cho học sinh THPT - Trần Thị Sáu (2012), GDPL cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam
- Nguyễn Đình Đặng Lục (2005), Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách
- Phan Thanh Long (2009), Lý luận giáo dục
- Làm rõ đặc điểm tâm sinh lý, tư duy lý tính và sự nhạy cảm của lứa tuổi 15–18.
- Nhận diện chủ thể trực tiếp: cán bộ quản lý, giáo viên GDCD, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn Thanh niên, tư vấn học đường.
- Xác định hệ thống phương pháp: thuyết phục, tổ chức hoạt động, kích thích và điều chỉnh hành vi.
Khuôn khổ pháp luật, thực trạng và giải pháp - Lê Tuấn Sơn (2002), Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về GDPL
- Đặng Thị Thu Huyền (2011), Giải pháp nâng cao chất lượng công tác phổ biến, GDPL trong ngành giáo dục
- Mai Thị Chung, Hoàn thiện cơ sở pháp lý về GDPL trong doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay
- Nguyễn Tất Viễn (2004), Đẩy mạnh việc dạy và học pháp luật trong các nhà trường
- Bùi Minh Dũng, Đặng Minh Tiến (2014), Nâng cao chất lượng GDPL cho học sinh THPT hiện nay
- Phan Xuân Thắng (2015), GDPL cho học sinh các trường THPT hiện nay
- Đánh giá sự phát triển đường lối chỉ đạo của Đảng từ Đại hội V, Đại hội VI đến nay.
- Chỉ ra thực trạng chương trình GDCD còn nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành, phương pháp giảng dạy chủ yếu là truyền thụ một chiều.
- Thống kê thực trạng vi phạm pháp luật của thanh niên và đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao nhận thức, đổi mới giáo trình và tăng cường phối hợp Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Tác giả đã khảo cứu các công trình học thuật và kinh nghiệm thực tiễn quốc tế:

  • Montesquieu (1874) trong tác phẩm kinh điển Bàn về tinh thần pháp luật (quyển 4, chương 3) chỉ ra rằng giáo dục pháp luật có mục tiêu đào tạo người công dân tốt, giáo dục công lý để con người hành động phù hợp với lẽ phải.
  • Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường trong Lý luận dạy học hiện đại - cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học nhấn mạnh tính đa dạng của phương pháp giảng dạy là điều kiện tiên quyết mang lại hiệu quả giáo dục.
  • Imprimerie Guyot (2005) với Citizenship Education at School in Europe phân tích mô hình giáo dục công dân tại các nước châu Âu, hướng tới việc nâng cao hiểu biết chính trị và tư duy phản biện.
  • Kan Wei trong Citizenship Education in China and the UK: Key Features and Contemporary Challenges so sánh sự khác biệt: giáo viên Trung Quốc tập trung truyền tải tri thức, kỹ năng, trong khi giáo viên Vương quốc Anh chú trọng giáo dục hệ giá trị.
  • Vụ tuyên truyền GDPL – Bộ Tư pháp Liên Xô (1985) trong GDPL trong trường phổ thông ở Liên Xô tổng kết nội dung pháp luật cơ bản và các phương pháp hiệu quả như thảo luận, tranh luận, tọa đàm, truyền hình.
  • Lữ Đạt và Chu Mãn Sinh (2010) trong Cải cách giáo dục ở các nước phát triển: Cải cách giáo dục ở Nhật Bản – Ôxtrâylia nêu rõ mô hình GDPL tại Nhật Bản kết hợp giữa tri thức công dân học, hiến pháp với sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình.
  • Sebert (2002) trong The American Bar Association and Legal Education in the United States of America phân tích kinh nghiệm của Liên đoàn Luật sư Hoa Kỳ trong việc áp dụng phương pháp phân tích tình huống thực tế (case study).
  • Edward Rubin (2012) trong Legal Education in the Digital Age (Nhà xuất bản Đại học Cambridge) luận giải tác động sâu sắc của công nghệ thông tin và chuyển đổi số đối với việc thay đổi cả nội dung và phương pháp GDPL.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các tài liệu trong và ngoài nước đã cung cấp nền tảng lý luận toàn diện, phần lớn các công trình trong nước mới dừng lại ở phạm vi toàn quốc hoặc nghiên cứu ở bậc đại học, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, chuyên sâu bằng phương pháp liên ngành về thực trạng GDPL cho học sinh THPT trên địa bàn đặc thù như thành phố Hà Nội giai đoạn 2007–2017. Luận án lấp đầy khoảng trống này bằng việc bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm và xây dựng hệ thống giải pháp đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của thủ đô.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin, kết hợp cách tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội (triết học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, văn hóa học), trong đó khoa học pháp lý — đặc biệt là chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính — giữ vai trò chủ đạo xuyên suốt.

Khung phân tích lý thuyết của luận án dựa trên các cấu phần:

  • Khái niệm GDPL: Kết hợp giữa khoa học pháp lý và khoa học sư phạm, định hình GDPL theo nghĩa hẹp là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch tác động lên người học nhằm phát triển tri thức, niềm tin và hành vi xử sự hợp pháp.
  • Cấu trúc thành tố của GDPL: Bao gồm khách thể (ý thức và hành vi pháp luật), đối tượng (học sinh THPT), chủ thể (đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên GDCD, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn Thanh niên), nội dung, hình thức, phương tiện và phương pháp GDPL.
  • Hệ thống điều kiện bảo đảm: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm điều kiện kinh tế (đầu tư tài chính, cơ sở vật chất), chính trị - tư tưởng (sự lãnh đạo của Đảng), văn hóa - xã hội (môi trường gia đình, bạn bè) và khuôn khổ pháp lý.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả kết hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê tài liệu: Sử dụng trong Chương 1, Chương 2 và Chương 3 nhằm xử lý văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật, số liệu báo cáo về kinh tế - xã hội, báo cáo vi phạm pháp luật tại Hà Nội.
  • Phương pháp so sánh luật học: Áp dụng ở Chương 2 để phân tích kinh nghiệm tổ chức GDPL của Liên bang Nga/Liên Xô, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc và các nước châu Âu.
  • Phương pháp khảo sát xã hội học thực nghiệm: Áp dụng trong Chương 3 để thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi anket và phỏng vấn sâu đối với 3 nhóm đối tượng:
    1. Cán bộ quản lý giáo dục và ban giám hiệu nhà trường.
    2. Giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân.
    3. Học sinh đang học tập tại các trường THPT trên địa bàn Hà Nội.

Địa bàn và mẫu khảo sát: Cuộc khảo sát thực địa được thực hiện tại 12 trường THPT đại diện cho các khu vực nội thành, ngoại thành, trường công lập và trường ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội:

STT Tên trường THPT được khảo sát Loại hình trường Khu vực địa bàn
1 THPT Yên Hoà Công lập Nội thành (Quận Cầu Giấy)
2 THPT Tây Hồ Công lập Nội thành (Quận Tây Hồ)
3 THPT Cầu Giấy Công lập Nội thành (Quận Cầu Giấy)
4 THPT Quang Trung Công lập Nội thành (Quận Đống Đa/Hà Đông)
5 THPT Xuân Đỉnh Công lập Ngoại thành/Ven đô (Quận Bắc Từ Liêm)
6 THPT Ứng Hoà Công lập Ngoại thành (Huyện Ứng Hòa)
7 THPT Nguyễn Văn Cừ Công lập Ngoại thành (Huyện Gia Lâm)
8 THPT Thanh Oai Công lập Ngoại thành (Huyện Thanh Oai)
9 THPT Thạch Thất Công lập Ngoại thành (Huyện Thạch Thất)
10 THPT Hoài Đức A Công lập Ngoại thành (Huyện Hoài Đức)
11 THPT Dân lập Lômônôxốp Ngoài công lập Khu vực đô thị phát triển
12 THPT Dân lập Trí Đức Ngoài công lập Nội trú/Bán trú liên quận huyện

Nội dung chính theo từng chương

Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này dành cho việc rà soát một cách có hệ thống các tài liệu học thuật trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước từ thập niên 90 đến nay đã hình thành hai luồng quan điểm chính về khái niệm GDPL: tiếp cận theo nghĩa rộng (tổng hòa các nhân tố khách quan, môi trường xã hội) và tiếp cận theo nghĩa hẹp (hoạt động có định hướng, có phương pháp sư phạm). Chương 1 cũng phân tích các nghiên cứu về vai trò của GDPL đối với việc hình thành văn hóa pháp lý và phòng chống tội phạm học đường, đồng thời điểm qua hệ thống công trình quốc tế nghiên cứu về triết lý giáo dục công lý (Montesquieu), mô hình giáo dục công dân tại châu Âu, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và tác động của thời đại số.

Trên cơ sở đánh giá tổng quan, tác giả xác định những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, bao gồm việc luận giải đặc thù của lứa tuổi THPT dưới lăng kính luật hiến pháp và hành chính, phân tích bức tranh thực tiễn GDPL tại Hà Nội giai đoạn 2007–2017, từ đó xây dựng các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học và phương pháp tiếp cận cho toàn bộ luận án.

Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 tập trung xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về GDPL cho học sinh THPT:

                      CẤU THÀNH HOẠT ĐỘNG GDPL TRƯỜNG THPT
  1. Khái niệm và đặc trưng bản chất: Tác giả đưa ra định nghĩa: GDPL cho học sinh THPT là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và phương pháp nhất định từ phía chủ thể giáo dục tác động lên học sinh nhằm phát triển hệ thống tri thức, tình cảm, niềm tin và hình thành thói quen xử sự tích cực theo pháp luật.
  2. Đặc điểm tâm sinh lý và địa vị pháp lý của học sinh THPT (15–18 tuổi):
    • Về thể chất và trí tuệ: Học sinh bước vào giai đoạn sung mãn về thể chất; tư duy lý tính, trừu tượng và tính phản biện phát triển mạnh, giảm dần cách học vẹt; khả năng tự ý thức về "cái tôi" và xác định vị trí xã hội được nâng cao nhưng dễ rơi vào thái cực tự đánh giá quá cao hoặc quá thấp.
    • Về tình cảm: Tình bạn chuyển từ việc cùng sở thích sang cùng chí hướng; xuất hiện những rung động cảm xúc giới tính ổn định hơn, song do thiếu kinh nghiệm sống nên dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội (thuốc lá, rượu bia, đua xe, ma túy).
    • Về địa vị pháp lý: Đây là độ tuổi bắt đầu tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính (cấp chứng minh nhân dân/căn cước công dân), quan hệ dân sự (trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) và quan hệ lao động đối với một bộ phận tham gia thị trường việc làm. Tuy nhiên, phần lớn các em vẫn phụ thuộc tài chính vào gia đình, dẫn đến sự mâu thuẫn giữa mong muốn khẳng định mình là người lớn với tâm lý ỷ lại vào cha mẹ.
  3. Các thành tố và điều kiện bảo đảm: Làm rõ nội dung giáo dục gồm 4 mảng chính (kiến thức nhà nước - pháp luật, chuẩn mực pháp lý cơ bản, pháp luật gắn liền đời sống và kỹ năng thực thi); hình thức chính khóa (môn GDCD) và ngoại khóa; các phương pháp đặc thù (thuyết phục, nêu vấn đề, đóng vai, thảo luận nhóm). Đồng thời, phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và kinh nghiệm quốc tế có thể vận dụng tại Việt Nam.

Chƣơng 3: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội hiện nay

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích định lượng và định tính từ khảo sát thực địa giai đoạn 2007–2017:

  • Bối cảnh kinh tế - xã hội và cơ sở pháp lý: Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế lớn với quy mô học sinh THPT đông đảo, GRDP tăng trưởng liên tục. Thành phố đã ban hành nhiều kế hoạch triển khai Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trong trường học.
  • Kết quả đạt được: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo GDPL được triển khai toàn diện từ Sở Giáo dục và Đào tạo tới các cơ sở; đội ngũ giáo viên GDCD được chuẩn hóa trình độ chuyên môn; việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng được đẩy mạnh.

Hệ thống bảng số liệu khảo sát thực tế được tác giả tổng hợp trong luận án bao gồm:

Danh mục bảng số liệu trong Chương 3 Nội dung phản ánh chính từ khảo sát
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Bối cảnh kinh tế phát triển của Hà Nội tạo điều kiện đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục.
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT Phản ánh quy mô đào tạo và sự phân luồng học sinh sau tốt nghiệp tại Hà Nội so với các thành phố khác.
Thống kê vi phạm pháp luật trên địa bàn Tình hình vi phạm pháp luật của lứa tuổi thanh thiếu niên tại Hà Nội diễn biến phức tạp.
Đánh giá của học sinh về nội dung môn GDCD Học sinh nhận xét chương trình còn nặng về lý thuyết, dung lượng bài học lớn so với thời lượng tiết học.
Các hình thức GDPL ở các trường THPT Hà Nội Thống kê mức độ phổ biến giữa dạy học chính khóa, hoạt động ngoại khóa, hội thi tìm hiểu pháp luật.
Khảo sát việc sử dụng tủ sách pháp luật Tỷ lệ học sinh khai thác tủ sách pháp luật còn thấp, nguồn tài liệu chưa phong phú và hấp dẫn.
Khảo sát về phương pháp GDPL Tỷ lệ áp dụng phương pháp thuyết trình truyền thống vẫn chiếm ưu thế so với phương pháp tương tác.
Đánh giá của học sinh về phương pháp của giáo viên Học sinh mong muốn tăng cường thảo luận tình huống thực tế, diễn án học đường thay vì học thuộc lòng.
  • Tồn tại và nguyên nhân:
    • Tồn tại: GDPL còn mang tính hình thức; kiến thức pháp luật của học sinh chưa sâu, khả năng kết nối lý luận với các tình huống đời thường còn yếu; một bộ phận học sinh thiếu niềm tin vào tính nghiêm minh của pháp luật.
    • Nguyên nhân: Nhận thức của một số cấp ủy, ban giám hiệu chưa thực sự coi trọng GDPL; mặt trái của môi trường mạng và xã hội tác động tiêu cực; phương pháp giảng dạy thiếu tính hấp dẫn; sự phối hợp giữa ba môi trường "Nhà trường – Gia đình – Xã hội" chưa chặt chẽ; kinh phí dành cho các hoạt động ngoại khóa pháp luật còn hạn chế.

Chƣơng 4: Yêu cầu và quan điểm, giải pháp tăng cƣờng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Chương 4 đề xuất phương hướng chiến lược và hệ thống giải pháp:

  1. Yêu cầu và Quan điểm chỉ đạo:
    • Hoạt động GDPL phải bám sát yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
    • Quán triệt đường lối của Đảng, xem GDPL là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của cả hệ thống chính trị.
    • Đổi mới GDPL phải lấy người học làm trung tâm, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục tri thức pháp luật với giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống.
  2. Hệ thống các nhóm giải pháp đồng bộ:
    • Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và ban giám hiệu nhà trường; kiện toàn cơ chế chỉ đạo và kiểm tra công tác GDPL.
    • Nhóm giải pháp về nội dung chương trình: Chuẩn hóa và tinh giản nội dung chương trình môn Giáo dục công dân; lược bỏ những phần trùng lặp giữa các khối lớp; tích hợp các nội dung pháp luật thực tiễn sát sườn với đời sống học sinh (an toàn giao thông, an ninh mạng, phòng chống bạo lực học đường).
    • Nhóm giải pháp về phương pháp và hình thức: Chuyển đổi căn bản từ truyền thụ một chiều sang phương pháp dạy học tích cực (thảo luận nhóm, xử lý tình huống, đóng vai, mô hình phiên tòa giả định); đa dạng hóa hình thức ngoại khóa, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật.
    • Nhóm giải pháp về đội ngũ giáo viên: Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật chuyên sâu và kỹ năng sư phạm cho giáo viên môn GDCD và đội ngũ cán bộ Đoàn, cán bộ tư vấn học đường.
    • Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất, tài chính: Đầu tư phương tiện giảng dạy hiện đại; đổi mới cách thức vận hành tủ sách pháp luật học đường; ứng dụng công nghệ thông tin và mạng Internet vào phổ biến pháp luật.
    • Nhóm giải pháp phối hợp xã hội: Hoàn thiện cơ chế phối hợp ba môi trường Nhà trường – Gia đình – Xã hội, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và cơ quan tư pháp địa phương trong công tác hỗ trợ GDPL.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ tiến sĩ luật học đầu tiên về hoạt động GDPL cho học sinh THPT từ thực tiễn thành phố Hà Nội. Các đóng góp mới của công trình được thể hiện trên các phương diện:

                             ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
  1. Về mặt lý luận:
    • Luận án đã củng cố, bổ sung nền tảng lý luận về GDPL cho học sinh THPT ở Việt Nam bằng việc phân tích liên ngành giữa khoa học pháp lý (Luật hiến pháp và luật hành chính) với khoa học sư phạm và xã hội học.
    • Khẳng định tính tất yếu và sự cần thiết của GDPL trong trường THPT, làm rõ luận điểm: do tính chất đặc thù của học sinh THPT là nhóm công dân sắp trưởng thành (bản lề giữa tuổi chưa thành niên và tuổi thành niên), GDPL không thể rập khuôn theo các nguyên tắc chung mà bắt buộc phải có cách tiếp cận, nội dung và phương pháp giáo dục mang tính đặc thù.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Luận án đã phác thảo bức tranh thực trạng GDPL tại Hà Nội trong 10 năm (2007–2017) với nguồn số liệu điều tra thực chứng đáng tin cậy.
    • Cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ, có cơ sở khoa học nhằm giúp các cơ quan quản lý nhà nước tại Hà Nội cũng như các cơ quan trung ương hoàn thiện chính sách, đổi mới chương trình và phương pháp GDPL trong nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi khảo sát thực nghiệm của đề tài chỉ tập trung chủ yếu vào địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2007–2017. Đối tượng nghiên cứu trọng tâm là hình thức GDPL chính thức trong nhà trường THPT gắn với vai trò của đội ngũ giáo viên và tổ chức Đoàn/Hội. Các số liệu và kinh nghiệm quốc tế chỉ dừng lại ở mức độ so sánh, tham chiếu lý luận.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    1. Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm liên vùng, đối chiếu mô hình GDPL giữa các đô thị đặc biệt với các vùng nông thôn, miền núi trên toàn quốc.
    2. Đi sâu nghiên cứu tác động của bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, sự bùng nổ của mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đối với sự thay đổi hành vi pháp lý và phương thức tiếp nhận pháp luật của học sinh THPT trong kỷ nguyên mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội có thể sử dụng các phát hiện và giải pháp của luận án để hoàn thiện chính sách, chuẩn hóa chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, đổi mới công tác phổ biến GDPL.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Là nguồn tư liệu hữu ích phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính, Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) và các trường đại học đào tạo luật trên toàn quốc.
  • Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trường THPT: Cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp sư phạm tích cực và các mô hình hoạt động ngoại khóa giúp giáo viên GDCD đổi mới bài giảng, nâng cao hứng thú học tập và kỹ năng thực hành pháp luật cho học sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án đưa ra định nghĩa tổng quát về Giáo dục pháp luật như thế nào?

Dựa trên việc phân tích các cách tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khoa học sư phạm và khoa học pháp lý, tác giả đưa ra định nghĩa: Giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể GDPL, tác động đến đối tượng tiếp nhận GDPL nhằm làm phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật, cũng như hình thành ở họ tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật.

2. Yếu tố nào tạo nên tính đặc thù của hoạt động GDPL cho học sinh THPT so với các đối tượng khác?

Tính đặc thù bắt nguồn từ chính đối tượng giáo dục: học sinh THPT (15–18 tuổi) đang ở giai đoạn "bản lề" chuyển tiếp giữa tuổi chưa thành niên và tuổi trưởng thành. Về mặt tâm sinh lý, các em có tư duy phản biện, nhu cầu khẳng định "cái tôi" độc lập nhưng kinh nghiệm sống còn hạn chế. Về mặt pháp lý, các em bắt đầu tham gia trực tiếp vào các quan hệ pháp luật hành chính, dân sự, lao động nhưng phần lớn vẫn còn phụ thuộc kinh tế vào gia đình. Do đó, GDPL cho nhóm đối tượng này đòi hỏi chương trình và phương pháp sư phạm riêng biệt, không thể áp dụng máy móc mô hình của người lớn hay của học sinh các bậc học dưới.

3. Cuộc điều tra xã hội học thực nghiệm của luận án tại Hà Nội được triển khai tại những cơ sở nào?

Khảo sát thực địa được thực hiện với 3 nhóm đối tượng (cán bộ quản lý, giáo viên môn GDCD và học sinh) tại 12 trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm: THPT Yên Hoà, THPT Tây Hồ, THPT Cầu Giấy, THPT Quang Trung, THPT Xuân Đỉnh, THPT Ứng Hoà, THPT Nguyễn Văn Cừ, THPT Thanh Oai, THPT Thạch Thất, THPT Hoài Đức A, THPT Dân lập Lômônôxốp và THPT Dân lập Trí Đức.

4. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến hạn chế của công tác GDPL ở các trường THPT tại Hà Nội giai đoạn 2007–2017?

Luận án chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu gồm: (1) Nhận thức về vai trò của GDPL ở một số cấp ủy, ban giám hiệu chưa đầy đủ; (2) Tác động tiêu cực từ các hiện tượng lệch chuẩn xã hội trong thời kỳ chuyển đổi làm suy giảm niềm tin của học sinh; (3) Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là thuyết trình một chiều, nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng xử lý tình huống; (4) Mối liên hệ phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội chưa tạo được sự cộng hưởng; (5) Kinh phí và cơ sở vật chất dành riêng cho công tác GDPL học đường còn hạn chế.

5. Luận án đã tham khảo những kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu nào về giáo dục pháp luật?

Tác giả đã điểm lại tư tưởng giáo dục công lý của Montesquieu (Pháp); các mô hình giáo dục công dân ở châu Âu, Vương quốc Anh và Trung Quốc; phương pháp thảo luận, tọa đàm và sử dụng truyền thông tại Liên Xô; mô hình gắn kết nhà trường - gia đình trong giảng dạy hiến pháp ở Nhật Bản; phương pháp giải quyết án lệ thực tế của Liên đoàn Luật sư Hoa Kỳ; và định hướng chuyển đổi GDPL trong kỷ nguyên số theo nghiên cứu của Edward Rubin (Đại học Cambridge).


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương đã giải quyết một cách khoa học và hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật cho học sinh THPT từ góc độ chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính. Thông qua nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng tại 12 trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2007–2017, công trình đã làm sáng tỏ những kết quả đạt được, chỉ ra các nút thắt cơ bản và nguyên nhân của tính hình thức trong công tác GDPL học đường. Hệ thống các quan điểm và giải pháp đồng bộ được đề xuất trong luận án mang giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức công dân, xây dựng lối sống tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cho thế hệ trẻ trong giai đoạn phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước.