Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông Việt Nam Chương 3: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội hiện nay Chương 4: Quan điểm, giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông từ thực tiễn thành phố Hà Nội 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài đề cập đến một phạm vi rộng các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động GDPL nói chung, GDPL cho học sinh THPT nói riêng, mà có thể khái quát như sau: 1.Nghiên cứu về những vấn đề lý luận của đề tài 1. Về khái niệm giáo dục pháp luật Ở Việt Nam, cho đến những năm cuối của thế kỉ XX vẫn chưa có định nghĩa chung về GDPL, mà có khá nhiều quan niệm khác nhau, trong số đó có thể phân thành các nhóm sau: Thứ nhất, coi GDPL là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức; Thứ hai, đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật; Thứ ba, coi GDPL đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở các nhà trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội không phải là GDPL; Thứ tư, cho rằng không có khái niệm GDPL. Có thể thấy những quan niệm trên đều còn mang tính phiến diện, giản đơn, chưa thấy hết đặc thù của sự tác động hoặc giá trị xã hội của GDPL.
Các quan niệm đó làm suy yếu khả năng triển khai tổ chức thực hiện pháp luật, khiến cho hiệu lực, hiệu quả của pháp luật bị giảm sút. Để có khái niệm GDPL phù hợp, cần xuất phát từ khái niệm giáo dục của khoa học sư phạm. Trong khoa học sư phạm, giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Trong cuốn “Nâng cao hiệu quả GDPL trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội” (2002) của tác giả Lê Văn Hoè có đưa ra khái niệm GDPL theo nghĩa rộng, đó là tổng thể những tác động ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và khách quan đến sự hình thành ý thức, hành vi và kỹ năng xử sự theo các giá trị, chuẩn mực pháp luật của con người [54, tr.
Theo cách tiếp cận này, có thể nhận thấy GDPL ở nước ta chịu tác động của các 8 yếu tố mang tính bất lợi như: những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, tình trạng xuống cấp đạo đức của một bộ phận cán bộ, viên chức nhà nước, các tập tục, thói quen lạc hậu cùng với sự biến dạng của những giá trị văn hoá truyền thống. Như vậy, GDPL phải tìm cách khắc phục và loại trừ các tác động nói trên. Mặt khác, có thể tận dụng những tác động tích cực để thúc đẩy GDPL, ví dụ như các truyền thống quý báu của dân tộc, sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước trong bối cảnh hiện đại. Rõ ràng với cách tiếp cận theo nghĩa rộng, GDPL mang tính triệt để và linh hoạt, vừa sử dụng tối đa tác động và ảnh hưởng của môi trường chủ quan, khách quan, vừa kết hợp chuyển hoá nhằm tạo ra các hình thức GDPL phù hợp với các đối tượng khác nhau.
Tuy nhiên, khi tiếp cận theo nghĩa rộng sẽ xuất hiện một số vấn đề phải tính đến như: sự phù hợp với các đối tượng GDPL khác nhau, tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả của GDPL. Ngược lại với cách tiếp cận theo nghĩa rộng, trong cuốn “Bàn về GDPL” (1995) tác giả Trần Ngọc Đường khẳng định, khái niệm GDPL xuất phát từ nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục và nó là một hoạt động định hướng, có những nét đặc thù so với các dạng giáo dục khác. Khái niệm GDPL theo nghĩa hẹp được hiểu là “hoạt động có định hướng có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ tri thức pháp lý tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành” [52, tr. Quan điểm này nhận được sự đồng tình của một số tác giả khác, thể hiện trong các công trình nghiên cứu như cuốn “GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật” (2014) của Phan Hồng Dương [24,Tr.34], “Phương pháp GDPL và giáo dục kỹ năng sống trong trường học” của Nguyễn Khắc Hùng [58, tr.44] , “GDPL trong trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay” (1996) của Đinh Xuân Thảo, [94, tr.
9 Cũng tiếp cận từ góc độ hẹp như trên, trong cuốn “GDPL cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam” (2012), tác giả Trần Thị Sáu đã đưa ra khái niệm GDPL cho học sinh trong trường THPT là “quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch tới học sinh thông qua hệ thống phương pháp sư phạm của nhà giáo, tập thể sư phạm các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường nhằm trang bị tri thức pháp luật, xây dựng ý thức và tình cảm pháp luật đúng đắn, rèn luyện cho các em thói quen, kỹ năng thực hiện hành vi theo những chuẩn mực pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” [90, tr. Về mục đích của giáo dục pháp luật Mục đích của GDPL cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đề cập nhưng có những kiến giải khác nhau. Có quan điểm cho rằng GDPL có mục đích rất rộng, bao gồm từ việc hình thành thái độ đúng đắn với lao động và sở hữu xã hội, bồi dưỡng tình cảm làm chủ, tình đồng chí, chủ nghĩa yêu nước, cho đến hình thành thói quen, tuân theo những quy phạm pháp luật, củng cố pháp chế, thiết lập trật tự pháp luật. Theo cách tiếp cận cụ thể hơn, trong cuốn “GDPL trong trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay” (1996), tác giả Đinh Xuân Thảo xác định rằng mục đích của GDPL là tạo ra khả năng phát triển văn hoá chính trị ở công dân, hình thành trong ý thức công dân các quan điểm, đạo đức chính thống [94, tr.
Cũng theo hướng tiếp cận cụ thể như trên, một số tác giả khác như Trần Ngọc Đường, Dương Thị Thanh Mai trong cuốn “Bàn về GDPL” (1995) quan niệm GDPL có mục đích xây dựng nhận thức, tình cảm và hành vi hợp pháp ở người lao động [52, tr. Trong “GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật” (2014) của Phan Hồng Dương [24,Tr.39], “Phương pháp GDPL và giáo dục kỹ năng sống trong trường học” của Nguyễn Khắc Hùng [58, tr.45] xác định GDPL có ba mục đích kết nối với nhau, đó là: Mục 10 đích phát triển nhận thức; Mục đích hình thành cảm xúc, động cơ và Mục đích tạo lập hành vi tích cực theo pháp luật. Tiếp cận từ những nguyên lý chung nêu trên, trong cuốn “GDPL cho học sinh trong THPT ở Việt Nam” (2012), tác giả Trần Thị Sáu xác định mục đích của việc GDPL cho học sinh trong trường THPT bao gồm: Một là, cung cấp cho học sinh tri thức quan trọng về giá trị pháp luật, vai trò điều chỉnh của nó và những hiểu biết cơ bản về các qui định pháp luật trong cuộc sống [90, tr.51]; Hai là, nâng cao ý thức pháp luật, bồi dưỡng niềm tin và tình cảm pháp luật cho học sinh để giúp các em có thể “miễn dịch” trước những nguy cơ xâm nhập của cái xấu [90, tr.52-53]; Ba là, thúc đẩy hành vi pháp luật của học sinh trong trường học và trong đời sống xã hội, rèn luyện cho các em kỹ năng nắm bắt các tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và bằng hiểu biết pháp luật của mình có thể chế ngự những tình huống đó [90, tr. Về vai trò của giáo dục pháp luật Trong tác phẩm “Bàn về GDPL” (1995) tác giả Trần Ngọc Đường, Dương Thị Thanh Mai [52] và tác phẩm “GDPL trong trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay” (1996) tác giả Đinh Xuân Thảo [94] đã chỉ ra vai trò của GDPL như sau: Trước hết vai trò GDPL bắt nguồn từ vai trò và giá trị xã hội của pháp luật: “Nếu như pháp luật là phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã hội, là phương tiện để mỗi công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì GDPL giúp cho cơ quan Nhà nước và công dân biết sử dụng phương tiện đó.
Ở nước ta, khi mà đại đa số dân cư chưa biết sử dụng phương tiên pháp luật thì giáo dục pháp pháp luật càng đóng vai trò quan trọng” [52, tr. Thứ hai, vai trò của GDPL còn xuất phát từ bản chất của nó. GDPL là quá trình tác động nhằm hình thành tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù 11 hợp với những đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành. Vì vậy, kết quả đạt được các mục đích do sự tác động định hướng là đã góp phần xây dựng ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý công dân [94, tr.
Văn hoá pháp lý chỉ có thể được hình thành trên cơ sở GDPL [52, tr. “Để cho nền dân chủ ngày một phát triển, ăn sâu, bám chắc vào đời sống xã hội, trở thành nếp sống bình thường của mỗi người, mỗi tổ chức và toàn bộ xã hội thì không thể tách rời nó với quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế và đẩy mạnh GDPL cho người lao động” [52, tr. Tác giả Phan Hồng Dương trong tác phẩm “GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật” (2014), [24, tr.42] đã nhận định GDPL cho sinh viên có vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc trang bị kiến thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, ý thức trách nhiệm và khả năng điều chỉnh hành vi đúng đắn cho sinh viên. GDPL còn góp phần tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả học tập chuyên môn đối với sinh viên, thúc đẩy việc nâng cao ý thức học tập của sinh viên.
Tương tự, tác giả Đinh Xuân Thảo trong tác phẩm“GDPL trong trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay” (1996) [94, tr.