Tổng quan luận án

Công trình Giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13), do nghiên cứu sinh Trịnh Thị Hà thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Duy Mền.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định thế kỷ XVII và XVIII là giai đoạn lịch sử mang tính chất đặc thù với cục diện cát cứ: chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, bên cạnh sự tồn tại của nhà Mạc tại Cao Bằng đến năm 1677. Bối cảnh địa - chính trị phân chia này tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó giáo dục và khoa cử Nho học vừa định hình bản sắc văn hóa riêng của từng vùng miền, vừa đóng góp vào diện mạo chung của quốc gia Đại Việt. Trước đây, nhiều công trình đã khảo sát giáo dục và khoa cử thời quân chủ nhưng phần lớn chỉ tiếp cận như một phần khái quát trong tiến trình lịch sử ngàn năm, hoặc khảo cứu những khía cạnh riêng lẻ. Vấn đề giáo dục và khoa cử Nho học dưới thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũng như tính kế thừa truyền thống khoa bảng của các dòng họ nơi làng xã vẫn là khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết một cách bao quát, hệ thống.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng rõ thực trạng tổ chức giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII; từ đó xác định đóng góp của nền giáo dục, khoa cử đối với sự phát triển của quốc gia Đại Việt. Để đạt mục đích này, tác giả đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích khái quát bối cảnh chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII tác động đến chính sách, tình hình giáo dục và khoa cử thời kỳ này.
  2. Trình bày khái quát mục tiêu của giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII; làm rõ chính sách và tình hình tổ chức giáo dục (trường lớp trung ương và địa phương, chương trình học tập, chế độ khảo thí) ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong, chỉ ra sự kế thừa và nét riêng biệt giữa hai vùng.
  3. Trình bày, phân tích tình hình khoa cử Nho học của triều Lê - Trịnh và chúa Nguyễn thông qua thể lệ thi cử, quy trình tổ chức các khoa thi cụ thể, làm rõ đặc điểm khoa cử của mỗi miền.
  4. Phân tích những thành tựu và hạn chế của giáo dục, khoa cử Nho học Đại Việt trong hai thế kỷ XVII, XVIII; làm rõ vai trò, ảnh hưởng của tầng lớp trí thức Nho học đối với sự phát triển xã hội, trọng tâm là các lĩnh vực chính trị và văn hóa.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nền giáo dục và khoa cử Nho học, thực trạng hoạt động cùng những đóng góp của hệ thống này đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu không gian lãnh thổ Đại Việt gồm Đàng Ngoài (từ phía bắc sông Gianh trở ra) và Đàng Trong (từ phía nam sông Gianh đến Hà Tiên). Tại Đàng Ngoài, tác giả tập trung vào vùng quản lý của chính quyền Lê - Trịnh, chưa khảo cứu vùng đất Cao Bằng của nhà Mạc do hạn chế nguồn tư liệu. Tại Đàng Trong, luận án giới hạn trong phạm vi cai quản của các chúa Nguyễn đến năm 1777 (hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần), không khảo sát giáo dục thời Tây Sơn và thời chúa Nguyễn Ánh ở Gia Định.
  • Phạm vi thời gian: Về cơ bản từ năm 1600 đến năm 1799. Tuy nhiên, ở Đàng Ngoài, tác giả điều chỉnh mốc nghiên cứu từ năm 1592 (khi họ Trịnh đón vua Lê về Thăng Long, mở đầu cho các khoa thi Hội năm 1595, 1598) đến năm 1788 (khi triều Lê kết thúc); ở Đàng Trong, mốc kết thúc là năm 1777 khi chính quyền chúa Nguyễn tại Phú Xuân sụp đổ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hệ thống giáo dục và khoa cử Nho học chính thống của người Việt (người Kinh) do Nhà nước quản lý và tư nhân tổ chức (trường công, trường danh sĩ, trường tư gia làng xã). Luận án không đề cập đến việc dạy học chữ Nho tại nhà chùa và việc học của cư dân người Khơme, người Chăm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án khai thác hệ thống tư liệu đa dạng, bao gồm:

  • Nguồn chính sử: Đại Việt sử ký toàn thư (bản khắc Chính Hòa năm 1697), Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ tục biên (1676 - 1740), Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Lê triều chiếu lệnh thiện chính thư, Lê triều quan chế, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục (phần Tiền biên), Đại Nam liệt truyện (phần Tiền biên), Đại Nam nhất thống chí.
  • Nguồn đăng khoa lục và sách ghi chép danh nhân: Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (do Nguyễn Hoàn, Vũ Miên, Phan Trọng Phiên, Uông Sĩ Lăng biên soạn), Lịch đại danh hiền phổ, Từ Liêm huyện đăng khoa chí (Bùi Xuân Nghi), Thu tỉ đề danh ký, Phượng Dực đăng khoa lục (Đinh Danh Bá), Ngọc Than đăng khoa lục.
  • Tác phẩm của các sử gia và trí thức tư nhân: Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ; Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác; Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch; Hải Dương phong vật chí của Trần Công Hiến và Trần Huy Phác; Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Ô châu cận lục của Dương Văn An; Việt Nam khai quốc chí truyện của Nguyễn Khoa Chiêm.
  • Văn bia, hương ước và các công trình biên khảo địa phương: 874 văn bia khuyến học từ nghiên cứu của Nguyễn Hữu Mùi; các công trình tra cứu khoa bảng của Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Bùi Xuân Đính, Tăng Bá Hoành, Dương Thị Cẩm, Thái Kim Đỉnh, Đào Tam Tỉnh, Nguyễn Đình Tư.
  • Ghi chép của người nước ngoài: Các tài liệu phương Tây của Alexandre de Rhodes (1651), Jean-Baptiste Tavernier (1681), Samuel Baron (1685 - 1686), William Dampier (1688), Geerts (1637), Christophoro Borri (1621), Jean Koffler (1755), John Barrow (1792 - 1793); các ký sự Trung Hoa gồm An Nam cung dịch kỷ sự của Chu Thuấn Thủy và Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thiền sư Thích Đại Sán.

Tình hình nghiên cứu trong nước được tác giả phân tích qua hai nhóm công trình:

  • Nhóm viết về giáo dục và khoa cử Nho học Việt Nam tổng quát: Các bài khảo cứu đầu thế kỷ XX của Dương Bá Trạc (1919), Trần Văn Giáp (1941), Hoa Bằng (1942), Ngô Tất Tố (1943); công trình tổng thuật của Vũ Ngọc Khánh (1985); bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập của Viện Sử học (đặc biệt là tập 4 xuất bản năm 2013); các khảo cứu chuyên đề của Nguyễn Đăng Tiến, Phan Trọng Báu, Nguyễn Thế Long, Lê Văn Giạng, Phan Ngọc Liên, Đinh Khắc Thuân, Bùi Xuân Đính, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Công Lý, Nguyễn Hữu Mùi... Các công trình này cung cấp bức tranh toàn cảnh nhưng thời gian bao quát quá dài nên chưa đào sâu tính chất riêng biệt của hai thế kỷ XVII - XVIII.
  • Nhóm nghiên cứu trực tiếp thời kỳ XVII - XVIII: Nguyễn Đăng Tiến (1996) cho rằng Nho học giai đoạn này suy thoái do khủng hoảng ý thức hệ; Nguyễn Tiến Cường (1998, 1999) khẳng định giáo dục thời kỳ này vẫn phát triển cả về lượng và chất, gắn với thực tiễn; Nguyễn Đức Nhuệ (2000, 2006) thống kê 72 khoa thi văn (1554 - 1787) lấy đỗ 740 người; Trần Thị Vinh (2006, 2012, 2015) phân tích ba phương thức tuyển dụng quan lại (khoa cử, tiến cử, nạp tiền thóc); Phạm Đức Anh (2015) khảo sát thiết chế quan chức xuất thân khoa bảng; Đỗ Thị Thùy Lan (2011) khảo sát trường thi Hội Thăng Long; Lê Thị Thu Hiền (2006) phân tích thể chế chính trị lưỡng đầu tác động đến các kỳ thi Đình; Nguyễn Tuấn Cường nghiên cứu mô hình trường tư Phúc Giang của Nguyễn Huy Oánh.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: hệ thống hóa toàn diện cơ cấu tổ chức trường lớp từ trung ương đến làng xã ở cả Đàng Ngoài và Đàng Trong; làm rõ các cơ sở giáo dục ít được khảo cứu như trường "Học Cung" của chúa Nguyễn, trường quan phương Sùng Văn quán, Tú Lâm cục; xác định cụ thể danh tính, phẩm hàm và học vị của đội ngũ học quan Quốc Tử Giám Thăng Long; phân tích mô hình trường dân lập xuất hiện từ thế kỷ XVIII; và so sánh đối chiếu toàn diện quy chế giáo dục, khoa cử giữa hai miền đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng giúp tác giả nhận thức và lý giải mối liên hệ hai chiều giữa bối cảnh chính trị - xã hội phân liệt với nhu cầu đào tạo, tuyển chọn nhân tài của bộ máy Nhà nước; đặt các hiện tượng giáo dục, thi cử vào điều kiện lịch sử cụ thể để đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế.
  • Phương pháp luận duy vật lịch sử cho phép phân tích tiến trình vận động, kế thừa của giáo dục Nho học thế kỷ XVII - XVIII từ các triều đại Lý, Trần, Lê sơ, Mạc; đồng thời đặt giáo dục hai miền Đàng Ngoài và Đàng Trong vào thế đối sánh đồng đại.

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được sử dụng kết hợp:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Phương pháp lịch sử phục dựng tiến trình thành lập, quy mô kiến trúc trường Quốc Tử Giám, sự ra đời của loại hình trường dân lập thế kỷ XVIII và thể lệ các kỳ thi. Phương pháp lôgic làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa thiết chế chính trị với chính sách trọng dụng trí thức Nho học và ảnh hưởng của họ đối với xã hội.
  • Phương pháp thống kê: Được vận dụng theo hướng tiếp cận lịch sử xã hội nhằm định lượng các dữ liệu từ chính sử và đăng khoa lục: số lượng Giám sinh, danh sách 68 học quan Quốc Tử Giám, phân loại phẩm hàm quan trường, số trường tư, số người trúng tuyển qua các khoa thi ở cả hai miền.
  • Phương pháp so sánh: Được triển khai theo trục lịch đại (đối chiếu thời Lê - Trịnh với thời Lê sơ, thời Mạc) và trục đồng đại (đối chiếu Đàng Ngoài với Đàng Trong) để chỉ ra điểm tương đồng trong việc kế thừa khuôn mẫu Nho giáo và nét dị biệt do điều kiện địa phương quy định.
  • Phương pháp khảo sát điền dã: Khảo sát thực địa dấu tích trường học cổ, sưu tầm văn bia khuyến học, gia phả dòng họ khoa bảng tại các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh).

Về nguồn tư liệu, văn bản sử dụng trực tiếp các bộ chính sử triều Lê và triều Nguyễn, 82 văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Hà Nội, các bộ sách đăng khoa lục, văn bia khuyến học làng xã và các ghi chép của nhân chứng nước ngoài đương thời đã qua hiệu đính, đối chiếu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tư liệu và tình hình nghiên cứu vấn đề

Chương này phân tích, đánh giá toàn diện giá trị và giới hạn của các nguồn sử liệu trong nước (chính sử, văn kiện hành chính như Lê triều chiếu lệnh thiện chính, thư tịch đăng khoa lục, văn bia, hương ước, gia phả) cùng các tác phẩm du ký của giáo sĩ, thương nhân phương Tây và người Trung Hoa. Tác giả tổng thuật các khuynh hướng nghiên cứu trong nước từ đầu thế kỷ XX đến nay; phân loại thành tựu của các học giả đi trước về thiết chế trường học, sách giáo khoa, thể văn khoa cử, dòng họ khoa bảng và việc tuyển dụng quan lại. Chương 1 làm rõ những vấn đề học giới đã giải quyết và xác định những nội dung còn bỏ ngỏ mà luận án cần đi sâu giải quyết về mặt tư liệu cũng như góc độ tiếp cận.

Chương 2: Giáo dục Nho học

Chương 2 trình bày mục đích giáo dục Nho học thời kỳ này gồm ba phương diện: học để làm người, học để làm quan và học để lưu danh muôn đời.

Tại Đàng Ngoài, chính quyền Lê - Trịnh ban hành nhiều chính sách chấn chỉnh giáo dục: quy định thời khắc học tập (chỉ dụ năm 1683 của Trịnh Tạc); yêu cầu dùng thể văn đời Hồng Đức (chỉ dụ năm 1693); thay đổi sách học (chỉ dụ năm 1732 của Trịnh Giang); ban hành bản "Học quy" năm 1779 của Trịnh Sâm (đề cao "trước đức hạnh sau nghệ văn", lập sổ học tịch); thực thi 24 điều giáo hóa năm 1663. Triều đình tổ chức in ấn sách kinh điển: năm 1734 in bộ Ngũ kinh đại toàn, sai Nguyễn Hiệu và Phạm Khiêm Ích khắc in các bản Tứ thư, Chư sử, Thi lâm, Tự vị. Về kinh tế, năm 1723 chúa Trịnh Cương quy định cấp học điền cố định cho trường phủ:

Phân hạng trường phủ thời Lê - Trịnh Diện tích học điền chuẩn cấp (năm 1723)
Phủ lớn 20 mẫu
Phủ vừa 18 mẫu
Phủ nhỏ 16 mẫu

Hệ thống trường công Đàng Ngoài gồm:

  • Trường Quốc Tử Giám Thăng Long: Đặt tại thôn Minh Giám, huyện Thọ Xương; diện tích ghi nhận theo Địa bạ thôn Minh Giám (năm 1837) là 7 mẫu 3 sào 2 thước 3 tấc. Trường trải qua các lần trùng tu lớn vào các năm 1645, 1662 (Trịnh Tạc sai Phạm Công Trứ mở rộng), 1762 (Trịnh Doanh), 1771 (Nguyễn Hoàn giải tỏa nhà dân xung quanh) và 1785 (Trịnh Sâm sai Bùi Huy Bích tu sửa). Thời Trịnh Sâm, đại thần Nguyễn Nghiễm đúc quả chuông lớn Bích ung đại chung treo tại nhà Thái học.
  • Trường quan phương tại Kinh đô: Duy trì Sùng Văn quán (Chiêu văn quán) và Tú Lâm cục để đào tạo con cháu hoàng tộc, quan viên, đặt các chức Tư huấn (Chánh bát phẩm) và Điển nghĩa (Tòng bát phẩm).
  • Trường phủ (Hương học): Toàn Đàng Ngoài có khoảng 36 trường phủ trên tổng số 48 phủ. Năm 1767, triều đình đặt thêm chức Đề đốc học chính do quan Tham chính kiêm nhiệm để đôn đốc việc học tại các trấn.

Hệ thống trường tư Đàng Ngoài phát triển phong phú:

  • Trường của các danh sĩ: Trường Hào Nam của Thám hoa Vũ Thạnh (học trò lên tới 1.000 người, dạy đỗ nhiều Tiến sĩ như Ngô Sách Hân, Trần Hiền); trường của Nguyễn Đình Trụ ở Thăng Long; trường Lưu học hiệu gắn với Thư viện Phúc Giang (lập năm 1767) của Nguyễn Huy Oánh tại Hà Tĩnh (lưu giữ gần 500 bản khắc gỗ, tự biên soạn giáo trình cao học như Ngũ kinh toản yếu đại toàn, Tứ thư toản yếu, có 30 học trò đỗ Tiến sĩ, lập chế độ ruộng học năm 1785).
  • Trường dân lập cấp làng xã: Xuất hiện từ thế kỷ XVIII do nhân dân tự đóng góp đất và tiền, tiêu biểu như trường làng xã Văn Trưng (huyện Bạch Hạc, 3 sào đất), xã Đại Định (1756), xã Phú Đa (1767, dân quyên 800 quan tiền dựng 2 dãy nhà học 5 gian); cùng các trường tại Lại Thượng, Mục Xá, Hạc Bổng, Trạch Lộ.
  • Lớp học của các thầy đồ: Điển hình là lớp của thầy Dương Tồn (từ Hải Dương vào Nghệ An, đào tạo Hồ Sĩ Dương); thầy Đỗ Đình Tá (Phú Xuyên, đỗ Sinh đồ 1729); thầy Dương Chung Tú (Nghệ An, đỗ Hương cống 1729, dạy 700 - 800 học trò).

Về đội ngũ học quan Quốc Tử Giám Thăng Long, tác giả thống kê 68 vị thời Lê - Trịnh với tỷ lệ học vị và phẩm hàm cụ thể:

Trình độ học vị của Học quan Quốc Tử Giám Số lượng (viên) Tỷ lệ phần trăm (%)
Tiến sĩ 63 92,6%
Đỗ tam trường thi Hội 2 2,9%
Không rõ xuất thân 3 4,4%
Tổng cộng 68 100%

Về phẩm hàm cao nhất mà 68 học quan này từng đảm nhiệm: 19 người đạt bậc 2 (Thượng thư - Tòng nhị phẩm), 22 người đạt bậc 3 (Chánh, Tòng tam phẩm), 21 người đạt bậc 4 (Chánh, Tòng tứ phẩm), 3 người đạt bậc 5 và 3 người đạt bậc 8. Tuy nhiên, tiêu cực mua quan bán chức đã xuất hiện: triều đình cho phép nộp tiền thóc để nhận chức Huấn đạo vào các năm 1721, 1740, 1742, 1760; riêng năm 1742 nộp 250 quan tiền được trao chức Huấn đạo.

Tại Đàng Trong, các chúa Nguyễn từng bước xây dựng nền tảng Nho học. Tác giả chỉ ra chúa Nguyễn đã lập trường "Học Cung" tại Phú Xuân, gửi công tử tới nhà quan chức uyên bác học tập; trường tư của các Nho sĩ giữ vai trò nòng cốt cung cấp sĩ tử dự thi.

Chương 3: Khoa cử Nho học

Chương này phân tích thể lệ và quy trình tổ chức thi cử ở hai miền:

  • Tại Đàng Ngoài: Triều đình duy trì hệ thống thi cử chặt chẽ gồm thi Hương, thi Hội và thi Đình; tổ chức thêm các khoa thi tuyển đặc biệt như thi Sĩ vọng, thi Hoành từ. Tác giả phân tích các quy chế trường quy, khảo hạch, hội đồng giám khảo và chính sách đãi ngộ người đỗ đạt (lễ xướng danh, ban y phục, mũ áo, yến tiệc, vinh quy bái tổ, dựng bia đề danh tại Văn Miếu). Cơ chế "lưỡng đầu" vua Lê - chúa Trịnh can thiệp trực tiếp vào việc tổ chức và bổ dụng người đỗ.
  • Tại Đàng Trong: Hệ thống khoa cử của chúa Nguyễn mang tính ứng dụng thực tiễn cao hơn, bao gồm kỳ thi Xuân thiên quận thí và Thu vi Hội thí (chia thành hai ban: Chính đồ và Hoa văn); các kỳ thi khảo tuyển khác gồm thi Thám phỏng, Tam ty. Chính sách đãi ngộ người trúng tuyển được thực thi chu đáo nhằm thu hút nhân tài phục vụ chính quyền. Tuy nhiên, khoa cử Đàng Trong có hạn chế là chỉ lấy đỗ đến bậc Hương cống, chưa tổ chức được kỳ thi Hội để tuyển chọn học vị Tiến sĩ như Đàng Ngoài.

Chương 4: Thành tựu, hạn chế của giáo dục và khoa cử Nho học

Chương 4 tổng kết hai mặt của giáo dục và khoa cử Nho học thời kỳ này:

  • Thành tựu: Đào tạo đội ngũ trí thức đông đảo cho bộ máy Nhà nước; thống kê số lượng Tiến sĩ chia theo ba giáp (Bảng 4.1) và chức quan cao nhất được bổ nhiệm (Bảng 4.2); thống kê số lượng Hương cống và chức vụ đảm nhiệm (Bảng 4.3). Hệ thống giáo dục góp phần hình thành lớp quan chức trung nghĩa, nhà Nho đức nghiệp và các danh sĩ tiêu biểu như Nguyễn Công Thái, Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đôn, Vũ Miên, Bùi Huy Bích... Về phương diện xã hội, giáo dục thúc đẩy truyền thống hiếu học lan rộng về các làng xã, hình thành các làng khoa bảng, dòng họ khoa bảng nổi tiếng tại vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
  • Hạn chế: Nền giáo dục thiên về lý thuyết sách vở, coi trọng bằng cấp, đề cao văn chương sáo rỗng, áp dụng phương pháp học thuộc lòng thụ động; giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII nảy sinh nhiều tiêu cực trường quy và việc nộp tiền thóc mua bán bằng cấp, chức tước làm suy giảm chất lượng quan lại.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa bối cảnh địa - chính trị phân chia Đàng Ngoài - Đàng Trong với nhu cầu xây dựng bộ máy hành chính thông qua thi cử Nho học; chỉ rõ giáo dục và khoa cử vừa chịu sự chi phối của thể chế chính trị, vừa là công cụ đào tạo lực lượng trí thức duy trì sự ổn định quốc gia.

Về mặt thực tiễn, luận án đạt được các kết quả cụ thể:

  • Thống kê, phân tích có hệ thống mạng lưới trường lớp Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII; làm rõ cơ cấu nhân sự, học vị của 68 học quan Quốc Tử Giám Thăng Long (với 92,6% đỗ Tiến sĩ) và các trường quan phương Sùng Văn quán, Tú Lâm cục.
  • Xác lập nhận định bước đầu về việc chúa Nguyễn lập trường "Học Cung" tại Phú Xuân, chỉ ra nét riêng biệt trong việc gửi công tử hoàng tộc đến nhà các quan viên thụ nghiệp và vai trò của mạng lưới trường tư ở Đàng Trong.
  • Phát hiện và mô tả loại hình trường dân lập cấp làng xã xuất hiện từ thế kỷ XVIII tại Đàng Ngoài dựa trên nguồn tư liệu văn bia (tiêu biểu tại huyện Bạch Hạc, Vĩnh Tường).
  • Khảo cứu hệ thống trường tư của các danh sĩ, tiêu biểu là mô hình Thư viện Phúc Giang - Trường Lưu của Nguyễn Huy Oánh với hệ thống giáo trình tự biên soạn và chế độ cấp ruộng học điền năm 1785.
  • Cung cấp số liệu thống kê về các khoa thi, người đỗ đạt (Tiến sĩ, Hương cống) và cơ chế bổ nhiệm quan chức của triều Lê - Trịnh và chúa Nguyễn.
  • Đề xuất các bài học lịch sử về quản lý thi cử, chính sách khuyến học cơ sở và việc trọng dụng, đãi ngộ nhân tài trong bộ máy quản lý nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án gắn liền với các giới hạn tư liệu được tác giả công bố:

  • Chưa khảo cứu được tình hình giáo dục và khoa cử Nho học tại vùng đất Cao Bằng dưới sự quản lý của nhà Mạc (tồn tại đến năm 1677) do nguồn sử liệu ghi chép còn thiếu hụt.
  • Chưa mở rộng nghiên cứu sang giai đoạn Đàng Trong dưới thời phong trào Tây Sơn và chính quyền chúa Nguyễn Ánh tại Gia Định (từ năm 1777 đến năm 1802).
  • Chưa khảo sát việc dạy và học chữ Nho tại các cơ sở tôn giáo (chùa chiền) cũng như hoạt động giáo dục của các cộng đồng cư dân thiểu số (người Khơme, người Chăm).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là: tiếp tục sưu tầm tư liệu Hán Nôm địa phương và văn bia tại miền núi phía Bắc để phục dựng giáo dục thời Mạc tại Cao Bằng; mở rộng nguồn sử liệu Đàng Trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII; và nghiên cứu sự giao lưu tiếp biến giáo dục Nho học giữa người Việt với các tộc người khác trên lãnh thổ Đại Việt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ trực tiếp cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học, Hán Nôm học, Lịch sử Tư tưởng và Lịch sử Giáo dục.
  • Các nhà quản lý, hoạch định chính sách giáo dục quan tâm đến kinh nghiệm lịch sử về khảo thí, chuẩn hóa chức danh sư phạm và chính sách khuyến học cơ sở.

Những phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình gồm: hệ thống bảng biểu định lượng về 68 học quan Quốc Tử Giám, định mức học điền trường phủ năm 1723; nguồn khảo cứu văn bia về các trường dân lập làng xã thế kỷ XVIII; và mô hình tổ chức trường tư thục Phúc Giang của dòng họ Nguyễn Huy.

Câu hỏi thường gặp

1. Trình độ học vị và phẩm hàm của đội ngũ học quan tại Quốc Tử Giám Thăng Long thời Lê - Trịnh được ghi nhận như thế nào?
Qua khảo sát 68 học quan tại Quốc Tử Giám Thăng Long thời Lê - Trịnh, tác giả thống kê có 63 vị đỗ Tiến sĩ (chiếm 92,6%), 2 vị đỗ tam trường thi Hội (chiếm 2,9%) và 3 vị không rõ xuất thân (chiếm 4,4%). Về chức vụ cao nhất từng đảm nhiệm trong sự nghiệp, có 19/68 người đạt phẩm hàm bậc 2 (Thượng thư - Tòng nhị phẩm), 22/68 người đạt bậc 3 (Chánh, Tòng tam phẩm) và 21/68 người đạt bậc 4 (Chánh, Tòng tứ phẩm).

2. Loại hình "trường dân lập" tại làng xã Đàng Ngoài hình thành từ thời điểm nào và hoạt động ra sao?
Loại hình trường dân lập do người dân tự nguyện quyên góp tiền của và ruộng đất xây dựng xuất hiện từ thế kỷ XVIII, không có sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước. Tư liệu văn bia ghi nhận trường sớm nhất tại xã Văn Trưng, huyện Bạch Hạc (nay thuộc Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) với 3 sào đất; năm 1756 tại xã Đại Định; năm 1767 nhân dân xã Phú Đa (Bạch Hạc) quyên góp 800 quan tiền dựng hai dãy nhà học 5 gian trên đất xứ Doanh Sung. Mô hình này cũng được ghi nhận tại các xã Lại Thượng, Mục Xá, Hạc Bổng, Trạch Lộ.

3. Điểm khác biệt cơ bản trong cơ cấu thi cử giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII là gì?
Tại Đàng Ngoài, triều Lê - Trịnh tổ chức đầy đủ ba cấp thi Nho học quy củ gồm thi Hương, thi Hội và thi Đình, lấy đỗ học vị Tiến sĩ và khắc bia đá vinh danh tại Văn Miếu Thăng Long. Tại Đàng Trong, chúa Nguyễn tổ chức khoa cử muộn hơn với mục đích ứng dụng thực tiễn, gồm kỳ thi Xuân thiên quận thí và Thu vi Hội thí (chia thành hai ban Chính đồ và Hoa văn), chỉ lấy đỗ đến học vị Hương cống, chưa mở được kỳ thi Hội để lấy học vị Tiến sĩ.

4. Hiện tượng nộp tiền thóc để nhận chức vị giáo quan (Huấn đạo) diễn ra vào các mốc thời gian nào?
Hiện tượng nộp tiền thóc để trao chức quan diễn ra vào các năm 1721, 1740, 1742 và 1760 dưới triều Lê - Trịnh. Theo quy định cụ thể ban hành năm 1742, những người chưa có chức phẩm nếu dâng nộp 250 quan tiền cho triều đình thì được phong cấp các chức Huấn đạo, Phó sở, Tri sự; nộp 300 quan tiền được trao chức Điển bạ.

5. Mô hình trường tư thục của Nguyễn Huy Oánh tại Trường Lưu có những đặc trưng tổ chức nào?
Trường Lưu học hiệu gắn liền với Thư viện Phúc Giang (thành lập năm 1767) tại Hà Tĩnh, được Nguyễn Huy Oánh tổ chức sau chuyến đi sứ học hỏi mô hình thư viện Nhạc Lộc (Trung Quốc). Trường lưu giữ gần 500 bản khắc gỗ, tự in ấn hàng vạn quyển sách, tự biên soạn giáo trình cao học (Ngũ kinh toản yếu đại toàn, Tứ thư toản yếu), đào tạo được 30 học trò đỗ Tiến sĩ cùng triều; đồng thời thiết lập chế độ ruộng học điền vào năm 1785 để chu cấp cho học sinh nghèo hiếu học.

Kết luận

Luận án Giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII - XVIII của Trịnh Thị Hà là công trình chuyên khảo lịch sử phục dựng bức tranh toàn diện về hệ thống giáo dục và thi cử Nho học ở cả hai miền Đàng Ngoài và Đàng Trong. Thông qua việc vận dụng các phương pháp lịch sử, lôgic, so sánh và thống kê định lượng dựa trên nguồn sử liệu Hán Nôm, văn bia và du ký nước ngoài, tác giả đã làm rõ cơ cấu trường lớp, quy chế thi cử, chính sách đãi ngộ và vai trò của tầng lớp trí thức trong bộ máy quản lý nhà nước. Công trình chỉ ra những thành tựu bảo tồn mạch nguồn hiếu học dân tộc bên cạnh những hạn chế về tính giáo điều, tệ mua quan bán tước trong giai đoạn khủng hoảng xã hội thế kỷ XVIII. Toàn bộ các kết luận nghiên cứu được xây dựng trên dữ liệu lịch sử xác thực, cung cấp nguồn tư liệu chuyên khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử giáo dục Việt Nam thời trung đại.