Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI SỰ THAY ĐỔI CỦA MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường cho học sinh 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài “Kỹ năng thích ứng” là một trong những kỹ năng mềm giúp con người có thể thích ứng và hòa nhập một cách nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường, hoàn cảnh để đạt được mục tiêu đề ra; là một yếu tố hết sức quan trọng giúp con người có thể tồn tại và phát triển một cách tối ưu trước những biến đổi của môi trường sống, “kỹ năng thích ứng” đã được các nhà khoa học tâm lý nghiên cứu từ rất lâu. Những nghiên cứu đó chưa bàn nhiều đến yếu tố “kỹ năng thích ứng”, song yếu tố “kỹ năng” và “thích ứng” đã được các nhà khoa học nghiên cứu và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Đầu tiên, khái niệm “kỹ năng” đã được nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristot (384-322) xem như một phần phẩm hạnh, phẩm chất của con người. Ông cho rằng nội dung phẩm hạnh là “biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi”. Thế kỷ 19, các nhà giáo dục học nổi tiếng như J.Kômenxki (Tiệp Khắc) [18] cũng đã đề cập đến KN trí tuệ của học sinh và con đường hình thành KN này. Từ thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, “kỹ năng” được quan tâm và nghiên cứu với ý nghĩa thực tiễn cao.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu “kỹ năng” xuất phát từ hai trường phái: tâm lý học hành vi (đại diện là J.), và tâm lý học hoạt động do các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) khởi xướng. Đối với các nhà tâm lý, giáo dục học Liên Xô (cũ) khi nghiên cứu về “kỹ năng” lại phân theo hai hướng chính: 6 - Hướng nghiên cứu “kỹ năng” ở mức độ lý luận. Nghĩa là nghiên cứu bản chất, các quy luật hình thành và mối liên hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo. - Hướng nghiên cứu “kỹ năng” ở mức độ ứng dụng.
Nghĩa là nghiên cứu kỹ năng của con người trong các lĩnh vực đời sống cụ thể. Chẳng hạn như lĩnh vực sư phạm, sản xuất công nghiệp, lĩnh vực hoạt động tổ chức. - Về khái niệm “thích ứng” vốn là một phạm trù cơ bản của sinh học, tuy nhiên hiện nay nó đi vào hầu hết các lĩnh vực khoa học và đời sống con người. Dù trong bất cứ môi trường nào cũng vậy để bắt đầu với một cái mới thì con người phải quen dần để sống và làm việc tốt hơn với môi trường mới ấy.
“Thích ứng” trong tâm lý học là khái niệm dùng để nói về quá trình mà mỗi con người hay còn gọi là chủ thể hoạt động để thuần thục, tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức mới, kỹ năng mới để hoạt động có hiệu quả hơn. “Thích ứng” là việc con người thích nghi được với môi trường mới cảm thấy thoải mái, tự tin trong công việc, có sự tích cực quan tâm tìm hiểu về môi trường xung quanh liên quan đến công việc, kiểm soát, chủ động hòa nhập với nội dung nghề nghiệp, có lòng yêu nghề, dễ dàng thực hiện các quy định mà không gặp bất cứ trở ngại đáp ứng những yêu cầu, điều kiện mới; phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con người với những điều kiện hoạt động mới, là sự thâm nhập của con người vào những điều kiện đó một cách không gượng ép. “Xã hội hóa” phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân. Tóm lại, trên thế giới có khá nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về “kỹ năng” và “thích ứng”, nhưng còn phân tán dưới nhiều góc độ khác nhau và đặc biệt là chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến vấn đề “kỹ năng thích ứng” của học sinh.
Các nghiên cứu ở trong nước Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về “kỹ năng” thuộc các lĩnh vực hoạt động cụ thể được các nhà tâm lý học và giáo dục học Việt Nam quan tâm. Về lao động có Trần Trọng Thủy [34]. về KN sư phạm có Nguyễn Như An, Nguyễn Ngọc Báo. về KN giao tiếp có Nguyễn Thạc, Hoàng Anh [33].
về KN học tập có Hà Thị Đức [12].), Tuy nhiên về “kỹ năng thích ứng” thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến. 7 Đối với khái niệm “thích ứng” và đặc biệt là sự TƯ học đường, thời gian qua ở Việt Nam có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, Chẳng hạn: Năm 1982, tác giả Nguyễn Ngọc Bích nghiên cứu đề tài: “Thích ứng học đường của sv sư phạm”. Cũng trong năm này, tác giả Nguyễn Thị Trang thực hiện đề tài: “Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng học tập của sv khoa Tâm lý - giáo dục”. Năm 1983, tác giả Hoàng Trần Doãn với luận văn thạc sỹ: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sv khoa Văn và Toán trường Đại học sư phạm Hà Nội I”.
Năm 1998, tác giả Lê Thị Hương với luận văn thạc sỹ Tâm lý học “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập ở sinh viên”. Năm 2000, Tạp chí tâm lý học, vol. số 2, trang 12 “Một số nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên”. Năm 2007, tác giả Dương Thị Nga thực hiện luận văn thạc sỹ “Hình thành khả năng thích ứng nghề cho sv CĐSP qua giảng dạy học phần: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”.
Năm 2012, tác giả Lò Thị Vân, đề tài luận văn thạc sỹ “Kỹ năng thích ứng xã hội của học sinh THCS tỉnh Sơn La” đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá khả năng TƯ của học sinh THCS. Năm 2018, tác giả Cao Hồng Nam, trường THCS và THPT Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt kỳ 2 tháng 5 năm 2018 “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS Quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ”. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề “kỹ năng thích ứng” mà chủ yếu chỉ tập trung vào nghiên cứu sự thích ứng của con người trong những hoạt động cụ thể. Vì vậy tác giả chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu những biểu hiện và những biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường cho học sinh dân tộc thiểu số tại các trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS.
Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Quản lý và chức năng quản lý Trong nghiên cứu khoa học, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quan niệm 8 QL và chức năng của QL. Chính vì sự phong phú về cách tiếp cận, dẫn đến có nhiều quan niệm về vấn đề này, cụ thể: Theo Tâm lý học QL: “QL được coi như là sự kết hợp của “quản” và” lý”. “Quản” bao gồm sự coi giữ, tổ chức, điều khiển, trông nom và theo dõi.
“Lý” được hiểu là lý luận về sự phân biệt phải trái, sự sửa sang, sắp xếp, thanh lý, sự dự đoán cùng sự tạo ra thiết chế hành động để đưa vào sự phát triển”. Theo cách hiểu này, QL là “lý luận về sự cai quản”. Chức năng của QL là lãnh đạo, tham mưu và thừa hành. Nếu người QL chỉ lo “quản” mà coi nhẹ “lý” thì tổ chức sẽ trì trệ chậm phát triển; còn ngược lại thì dễ rơi vào thế mất cân bằng.
Vì thế trong “quản” phải có “lý’, trong “lý” phải có “quản”, “quản và lý” phải đi đôi với nhau, không tách rời nhau. QL là yếu tố tạo nên sự ổn định để phát triển của hệ thống trên lộ trình tiến tới trạng thái mới có chất lượng cao hơn [1]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[29]. Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [22].
Có thể nói:“QL không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật”, và “hoạt động QL vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan, vừa có tính pháp luật của nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi; chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”. Chức năng của QL là duy trì và phát triển, do vậy bất kỳ một hoạt động nào cũng cần phải QL. Từ những cách tiếp cận và quan niệm trên, có thể hiểu QL là một dạng hoạt động đa dạng và hơn nữa lại được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý. Mặc dù có những cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau nhưng về bản chất: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực và cơ hội của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra”.
Quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông 1. Nhà trường Nhà trường là nơi diễn ra quá trình dạy học nhằm giáo dục, đào tạo con người theo yêu cầu xã hội. Trong nhà trường, diễn ra các hoạt động giáo dục và các chương trình, kế hoạch theo quy định, trong đó quản lý hoạt động dạy học và QL các hoạt động giáo dục là trung tâm. Xét trong quan hệ với hệ thống GD, nhà trường được xem xét như một tế bào, là đơn vị cấu thành nên hệ thống GD quốc dân, là tấm gương phản chiếu bộ mặt của một nền GD.
Mục tiêu GD, tính dân chủ, quy mô trường lớp, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức GD, CSVC, trang thiết bị dạy học…trong nhà trường phản ánh trình chất lượng giáo dục và sự phát triển của nền GD của một quốc gia. Xét trong quan hệ với cộng đồng, địa bàn cư dân và vùng lãnh thổ, nhà trường được coi là trung tâm tri thức, trí tuệ của cộng đồng, của địa phương. Theo nghĩa này, nhà trường là nơi chuyển giao, phát triển và sáng tạo tri thức, không chỉ cho các thế hệ người học tập trong nhà trường mà cho cả cộng đồng xã hội [16].