Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS ở trường THCS. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS ở trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS trường THCS Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 1.1 Ở nước ngoài Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS được một số nhà tâm lý học thực hành đề cập đến. Tiếp đó là những nghiên cứu ứng dụng đưa giáo dục KNS vào nhà trường. Người đầu tiên phải kể đến là Gilbert J.Botvin – Giáo sư về sức khỏe cộng đồng, chuyên gia cao cấp về Tâm lý học, trưởng khoa phát triển KNS thuộc trường Đại học Cornell, Hoa Kỳ. Từ năm 1979, ông và cộng sự đã lập nên một chương trình giáo dục KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 tới lớp 9.
Một chương trình được lập ra nhằm giúp người học có khả năng từ chối những lời rủ rê sử dụng chất gây nghiện giúp bản thân có được sự an toàn và nâng cao giá trị của bản thân. Tại Mỹ Latinh (Costa Rica – 1996), hội thảo giáo dục sức khỏe thông qua giáo dục KNS trong các trường học đã được tổ chức… Ở các nước khu vực Châu Á, các chương trình giáo dục KNS cũng đã được triển khai rộng khắp do có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNICEF, UNESCO… Trong khu vực Đông Nam Á, các chương trình giáo dục liên quan đến KNS xuất hiện chủ yếu vào những năm cuối của thế kỷ XX và được triển khai ở nhiều nước. Ở Lào, giáo dục KNS được lồng ghép vào chương trình đào tạo chính quy, không chính quy và trường sư phạm đào tạo giáo viên từ năm 997. Tại Campuchia, chương trình giáo dục chính quy đã thực hiện việc tích hợp giáo dục KNS vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12… KNS được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển khả năng lựa chọn lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lí cho thanh thiếu niên.
Ngoài ra, nhu cầu vận dụng KNS một cách trực tiếp hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong Diễn đàn giáo dục Thế giới Dakar tháng 5/2000; trong việc thực hiện Công ước Quyền trẻ em; trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển giáo dục cho mọi người. Đặc biệt, trong tuyên bố về cam kết của Tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm 2001), các nước đó đồng ý rằng “Đến năm 2005 đảm bảo rằng ít nhất có 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tin, giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển KNS để giảm những tổn thương do sự lây nhiễm HIV” [28, tr. Bên cạnh đó, sự ra đời của các tác phẩm cũng giúp cho người đọc có thêm được nhiều thông tin đầy đủ hơn về giáo dục KNS. Trong cuốn sách “Chương trình giảng dạỵ KNS” (2006) của tác giả Gracious Thomas đã nhấn mạnh vai trò của GV nhằm giáo dục các KNS cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS.
Còn trong cuốn “Rèn luyện KNS cho HS – thường thức an toàn” của nhà xuất bản Quảng Tây năm 2008 để giúp trẻ nắm được những nguyên tắc cơ bản để thoát khỏi hoàn cảnh nguy hiểm như: Giữ bình tĩnh, không ngừng phát tín hiệu cầu cứu…Còn tác giả Carre Lynn trong tác phẩm “Giúp trẻ hòa nhập với xã hội” (2008) đã giới thiệu nhiều trò chơi vận động có tác dụng hỗ trợ phát triển một số KNS của trẻ như kỹ năng giao tiếp ứng xử xã hội, kỹ năng tự lập…[28, tr. 114] Có thể nói, ở nước ngoài, thanh thiếu niên đã được giáo dục những KNS cơ bản về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện, đương đầu và vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người với người. Đó là những KNS quan trọng để con người có thể ứng phó với những rủi ro trong cuộc sống. Những KNS này có thể được trang bị trong nhà trường hoặc thông qua các chương trình do các tổ chức thực hiện.
Tuy vậy, các nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS còn ít được chú ý. Ở Việt Nam Từ những năm 1995-1996, thuật ngữ “ KNS ” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam qua dự án của UNICEF phối hợp với Bộ GD&ĐT cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam với chương trình “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Chương trình thực nghiệm giáo dục “Sống khỏe lành mạnh và KNS” do UNICEF hỗ trợ được triển khai tại 20 trường thuộc Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Nội dung cụ thể của chương trình: Phổ biến về quyền trẻ em; phòng tránh thuốc lá, rượu, bia, phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em; phòng tránh và ứng phó với tình huống căng thẳng.
Những chủ đề trên được tổ chức cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 định kỳ mỗi tháng một buổi. Trong chương trình “Giáo dục sống khỏe và KNS” đã đề cập đến các kỹ năng cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao được triển khai, cung cấp thêm kỹ năng để đương đầu với những thách thức của xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS ” do UNESCO phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn nội hàm khái niệm KNS. Năm 2003-2004, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với UNESCO triển khai nghiên cứu về “Giáo dục KNS ở Việt Nam” đã trình bày một cách tổng quan về nhận thức, thực trạng và định hướng giáo dục KNS ở Việt Nam.
Bên cạnh các chương trình, các tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên quan đến giáo dục KNS cho các trường THCS và Trung học phổ thông khá phong phú. Trong cuốn “Hoạt động thực tiễn tìm hiểu KNS dành cho học sinh” do Trần Thời Kiến (chủ biên) đã trình bày những cách xác lập chủ đề hoạt động, lập kế hoạch hoạt động đến những hoạt động cụ thể nhằm hình thành các kỹ năng cần thiết cho học sinh. Hay trong cuốn “Giáo dục giá trị sống và KNS” cho đối tượng là học sinh THCS của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh, đã trình bày những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi ảnh hưởng đến việc hình thành KNS cho học sinh. Ngoài ra, nhóm tác giả đã thiết kế các nhóm chủ đề cùng với những hoạt động nhằm hình thành các KNS cho học sinh THCS [27].
Năm 2007, với đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Giáo dục một số KNS cho HS trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thanh Bình làm chủ nhiệm, kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ của các em còn hạn chế. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, xác định nhu cầu giáo dục KNS, đề tài đã xây dựng chương trình giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động NGLL [3]. Năm học 2010-2011, Bộ GD&ĐT có công văn về việc tăng cường thực hiện giáo dục KNS cho tất cả các bậc học và đã cho phép xuất bản bộ tài liệu tích hợp giáo dục KNS qua các môn học. Có thể kể đến “Giáo dục KNS trong môn Địa lý ở trường THCS”, “Giáo dục KNS trong môn Giáo dục công dân ở trường THCS”…xuất bản năm 2012.
Chương trình “Bạn hữu trẻ em” được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010-2016. Chương trình được thực hiện tại Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh để giáo dục KNS cho trẻ em ngoài trường học với các nội dung như: Phổ biến Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ… Bên cạnh đó, đã có một số luận án tiến sỹ về quản lý hoạt động giáo dục KNS như luận án “Giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động NGLL” của tác giả Phan Thanh Vân năm 2010 đã cho thấy thực trạng giáo dục KNS 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho học sinh trung học phổ thông thông qua hoạt động NGLL và đã đề xuất một số giải pháp cải tiến hoạt động trên. Nhìn chung, các nghiên cứu về giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS trên thế giới và ở Việt Nam đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ tính cấp bách và hình thức giáo dục KNS, đã đề xuất các biện pháp giáo dục KNS và quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động giáo dục KNS còn ít được quan tâm. Điều đó làm hạn chế hiệu quả của giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục KNS. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Theo Từ điển tiếng Việt thì “Quản lý là trông nom, xếp đặt công việc trong một cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, trường học…”[31,tr.
204] Còn theo quan điểm kinh tế học thì F. Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào theo phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [7,tr. Fayon lại cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực” [7, tr. Còn Harold Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.