CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊA PHƯƠNG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra nhanh chóng bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cùng những thách thức mới, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học trở thành mối quan tâm của mọi quốc gia bởi lẽ chất lượng giáo dục đại học là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, là ngọn nguồn để duy trì sự phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, đưa ra những luận điểm với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về các công trình nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo theo tiếp cận năng lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.
Nghiên cứu về đào tạo ngành công nghệ kỹ thuật ở các trường đại học theo tiếp cận năng lực * Các nghiên cứu ở nước ngoài Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao được tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm, chú trọng và đã có nhiều nhà nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này, trong đó phải kể đến các công trình của các tác giả: Theo Clark, F.(1976) trong cuốn“Characteristics of the competency- based curriculum” (Đặc điểm của chương trình giảng dạy dựa trên năng lực) [91] đã chỉ ra đào tạo dựa trên năng lực (Competency based education) xuất hiện đầu tiên ở Mỹ. Đạo luật Nông nghiệp Morrill Land 1862 đã cung cấp nền tảng đầu tiên cho khái niệm nền giáo dục ứng dụng dựa trên nhu cầu của các 10 nông trại và nông dân, những người không thể theo học đại học và cao đẳng danh tiếng của miền Đông nước Mỹ. Khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra, việc sản xuất nông trại được máy móc hóa dẫn đến việc xây dựng các trường cao đẳng nông nghiệp ở vùng nông thôn, cung cấp cơ hội đào tạo nghề cho nông dân tương lai, trợ giúp cho các hoạt động và quản lý nền sản xuất nông nghiệp quy mô lớn của Mỹ. Các chương trình giảng dạy nhấn mạnh vào đào tạo hơn là dạy và học theo lối truyền thống.
Mục tiêu là hướng tới đánh giá khả năng vận dụng kiến thức được học của học sinh vào các tình huống công việc thực tế. Mô hình giáo dục này phát triển mạnh mẽ vào những năm 70 ở Mỹ và sau đó lan rộng ra quốc gia khác. Tuy nhiên, mô hình này đầu tiên chủ yếu được áp dụng trong lĩnh vực đào tạo nghề. Trong những thập niên gần đây, các nền giáo dục tiến bộ đã đưa mô hình này vào áp dụng trong giáo dục phổ thông và đại học.
Tyler (1976) trong cuốn “Perspectives on American education: Reflections on the past…challenges for the future” (Quan điểm về giáo dục Mỹ: Những phản ánh về quá khứ… thách thức cho tương lai) [111] cho rằng “chương trình giảng dạy phải năng động, luôn được đánh giá và sửa đổi, chứ không phải là một chương trình thiết lập tĩnh”. Cách tiếp cận năng động này đã thay đổi chương trình giảng dạy từ một mô hình hướng nội dung sang một phương pháp tiếp cận tập trung vào người học. Phương pháp học tập tập trung vào người học này là một khái niệm nền tảng của CBE – đào tạo tiếp cận năng lực. Kathleen Santopietro Weddel đã đưa ra một phương thức mới là giáo dục - dạy học theo nhu cầu xã hội hay năng lực được quan tâm phát triển mạnh và đã được chấp nhận, vận dụng một cách phổ biến ở Bắc Mỹ, nhu cầu về giáo dục và dạy học đã tạo thành một áp lực và thách thức đối với giáo dục đào tạo.
Tại Mỹ từ những thập niên 1970 đã có những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các bộ mô đun đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp dựa trên nhu cầu lao động và thực hiện (Performance Based Teachers’ 11 Education Modules - PBTE Modules). Kết quả đã đưa ra được 600 kỹ năng trong đào tạo giáo viên kỹ thuật - dạy nghề [101]. Tiếp đó, Taylor & Francis Groups (1994) nghiên cứu đã nhận ra rằng việc học tập dựa trên nhu cầu xã hội hay là năng lực (Competency Based Training) có thể xem là trọng tâm đối với công tác nghiên cứu và triển khai dưới sự tài trợ của Hội đồng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp và cơ quan quản lý đào tạo được thực hiện ở các trường đại học và cao đẳng khác nhau nhưng kết quả cho thấy giáo dục đại học ít được hưởng lợi từ các kết quả nghiên cứu và vì vậy người ta đã ít quan tâm đến việc nghiên cứu lĩnh vực này [109]. Harris et al (1995) cho rằng đào tạo theo tiếp cận năng lực phát huy tối đa năng lực riêng của mỗi người học, giúp người học tự tìm tòi, khám phá tri thức dựa trên sở thích và mối quan tâm riêng, giúp người học làm chủ tri thức và vận dụng nó vào thực tế cuộc sống.
Đào tạo theo tiếp cận năng lực thúc đẩy tư duy sáng tạo, phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Nó nhấn mạnh đến các tình huống thực tế cuộc sống và thông qua giải quyết các tình huống đó người học có thể rút ra kinh nghiệm và tri thức cho riêng mình từ những tình huống đó [95]. Tổng quan tư liệu trên bình diện quốc tế gần năm thập kỷ qua cho thấy phát triển chuẩn theo cách tiếp cận năng lực là chiến lược có ý nghĩa tiền đề trọng yếu cho quá trình đảm bảo chất lượng đào tạo đại học theo hướng liên thông với nền giáo dục đại học quốc tế tiên tiến, hội nhập toàn cầu. Do vậy, đào tạo dựa vào năng lực và việc phát triển chương trình đào tạo với hệ thống kết quả học tập là các chuẩn năng lực đã được xem như: một quan điểm có tính toàn cầu (theo Arguelles & Gonczi, 2000) [80]; một tiến trình để nâng cao chất lượng giáo dục trong cuốn “Competency-Based Education: A Process for the Improvement of Education” (Giáo dục dựa trên năng lực: Một quá trình cải thiện giáo dục) (Hall & Jones, 1976) [97]; là bản hướng dẫn cho việc đạt kết quả xuất sắc của người học trong cuốn “Competency Based Nursing Education: Guide to Achieving Outstanding Learner Outcomes” (Giáo dục điều dưỡng 12 dựa trên năng lực: Hướng dẫn để đạt được kết quả học tập xuất sắc).
Tác giả Thomas Deissinger và Slilke Hellwig (Đức) năm 2011, đã công bố bài báo “Structure and function of competency-based education and training” (Cấu trúc và chức năng của đào tạo dựa vào năng lực: một quan điểm so sánh) [110]. Bài báo này nằm trong loạt bài về thực hành hàng ngày trong đào tạo nghề kiểm tra đào tạo dựa trên năng lực. Nó bắt đầu với một phần về triết lý đằng sau giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực (CBET) và cung cấp mô tả về các tính năng của CBET và các mục tiêu của nó. Việc thực hiện CBET được thảo luận bao gồm lập kế hoạch và phát triển chương trình giảng dạy và công nhận kết quả.
Sự tương phản giữa các hệ thống truyền thống và hệ thống CBET được xem xét là sự khác biệt giữa CBET và nghề nghiệp. Một quan điểm so sánh về CBET được đưa ra thông qua việc kiểm tra các hệ thống ở Úc, Anh, Wales, Bắc Ireland và Scotland. Tác giả Leesa Wheelahan (Úc) trong tác phẩm “The problem with competency-based training, Educating for the knowledge economy: critical perspectives ?” (Các vấn đề về đào tạo dựa vào năng lực trong nền kinh tế tri thức: Quan điểm bình luận) [103] đã phát triển và mở ra một góc nhìn thực tế khác về đào tạo theo NLTH. Quan điểm của tác giả là cần đặt sự hiểu biết (kiến thức) của người học vào vị trí trung tâm của CTĐT.
Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra hạn chế của phương pháp xây dựng CTĐT theo NLTH và đề xuất cần phải có những nghiên cứu sâu hơn trong các lý thuyết xây dựng chương trình đào tạo Johnstone & Soares (2014) cho rằng để thực thi mô hình giáo dục năng lực thành công đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và xem xét thận trọng, phải thiết 13 kế lại hệ thống quản lý, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục ở tất cả cấp độ từ trung ương đến địa phương. Khi các năng lực được xây dựng để phát triển thì đòi hỏi cơ sở giáo dục ở địa phương phải chuyển tải nó thành chủ đề và nội dung giảng dạy phù hợp, giúp phát triển và hiện thực hóa các năng lực đó ở người học [100]. * Các nghiên cứu ở trong nước Ở trong nước, đào tạo ngành công nghệ kỹ thuật theo tiếp cận năng lực được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây. Nổi bật có các công trình của: Nguyễn Đức Trí (2000), trong đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật ở trình độ đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề” [75] đã đề xuất các mô hình đào tạo GV dạy kỹ thuật trong đó có đề cập đến triết lý, các đặc điểm cơ bản; ưu điểm, nhược điểm của phương thức đào tạo theo NLTH; vận dụng phương thức đào tạo này vào đào tạo GV ở Việt Nam.
Nguyễn Minh Đường (2002), “Đào tạo theo năng lực thực hiện”[25], công trình này đã đề cập đến phương pháp xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề (Module of Employable Skills), thực chất là đào tạo theo mô đun NLTH các công việc của nghề. Võ Thị Xuân (2003), có đề tài nghiên cứu cấp Bộ B2003-19-28, “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo kỹ năng sư phạm 14 kỹ thuật” [79] đã đưa ra những luận điểm cơ bản về kiến thức, kỹ năng chủ yếu trong đào tạo thực hành, thực tập sư phạm kỹ thuật. Luận án của tác giả Vũ Xuân Hùng (2011), Rèn luyện năng lực dạy học cho sinh viên đại học sư phạm kỹ thuật trong thực tập sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện [36] đã trình bày cơ sở lý luận về rèn luyện năng lực dạy học cho sinh viên đại học sư phạm kỹ thuật trong thực tập sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện, thực trạng và biện pháp rèn luyện năng lực dạy học cho loại hình đối tượng này.