Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh trƣờng Tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trƣờng tiểu học Phan Thiết, Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở trong nước Đất nƣớc Việt Nam có truyền thống dân tộc với nhiều giá trị tốt đẹp. Câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đã đi vào trái tim của mỗi ngƣời Việt Nam. Truyền thống “Lá lành đùm lá rách”, “Tiên học lễ, hậu học văn”.đều là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Trƣớc Cách mạng tháng 8/1945, ở nƣớc ta có rất nhiều cuốn sách dạy về các giá trị luân lý, dạy làm ngƣời nhƣ: “Phong hoá điều hành”, “Huấn nữ ca”(dịch), “Gia huấn ca” (dịch) của Trƣơng Vĩnh Ký; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu. Trong đó, đặc biệt nhất phải kể đến cuốn: “Đạo đức và luân lý”(Bài nói chuyện sau in thành sách năm 1927) của Phan Châu Trinh đã đề cao sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con ngƣời. Theo ông, đạo đức là cái gốc của mỗi con ngƣời, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nhƣ vậy, dù là quan điểm tiếp cận khác nhau song các học giả, các nhà nghiên cứu đã đều rất coi trọng việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thế hệ mầm non, tƣơng lai của đất nƣớc.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo, bồi dƣỡng lực lƣợng thanh niên để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Bác đã viết những lời thiết tha trong Thƣ gửi các học sinh nhân ngày khai trƣờng (9-1945): “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Trong Thƣ gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán 1946, Ngƣời đã dành những lời đẹp nhất để ca ngợi tuổi trẻ và vai trò của lớp trẻ: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ.
Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Trong Thƣ gửi các bạn thanh niên năm 1947, Ngƣời khẳng định: “Thanh niên là 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Trong thực tế, vai trò, sức mạnh của thanh niên không phải là cái có sẵn, bất biến và tất yếu.
Muốn huy động sức trẻ, Đảng, Nhà nƣớc phải thực hiện thành công chiến lƣợc trồng ngƣời. Chiến lƣợc đó đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong Đại hội giáo viên giỏi toàn quốc năm 1958: “Vì sự nghiệp mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Trồng người” xét về khía cạnh nào đó cũng giống nhƣ trồng cây. Nếu trồng cây phải chăm lo, vun xới mầm cây nhỏ bé, yếu ớt để nó phát triển thành cái cây khỏe mạnh, có ích cho đời thì “trồng ngƣời” cũng phải bắt đầu bằng việc dạy dỗ, uốn nắn, giáo dục từ khi còn thơ ấu.
Ngƣời viết: “Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chiến lƣợc “trồng người”, coi việc giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng thế hệ trẻ là một trọng tâm của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, là quốc sách phát triển đất nƣớc. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là chân lý mà còn là con đƣờng thực hiện chân lý. Tính hành động, tính thực tiễn là một đặc điểm trong con ngƣời và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh nên chiến lƣợc bồi dƣỡng thế hệ trẻ cũng đƣợc trù tính kỹ càng và cụ thể.
Theo Bác, để thực hiện tốt sự nghiệp đào tạo, bồi dƣỡng thế hệ trẻ cần xây dựng nội dung và phƣơng pháp giáo dục cho phù hợp. Kế thừa tƣ tƣởng của Ngƣời, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhƣ các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Long, tác giả Vũ Trọng Dung, tác phẩm “Giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng” (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1988); “Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên” (Phạm Minh Hạc, 1997). Cuốn sách: “Rèn luyện kĩ năng sư phạm” của tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực - tâm lực - thể lực của mỗi con ngƣời, trong đó coi tâm lực là nội lực của sự phát triển con ngƣời. Đồng thời, tác giả đã cung cấp những kỹ năng sƣ phạm cần thiết cho sinh viên sƣ phạm và đội ngũ GV để nâng cao chất lƣợng GDĐĐ trong nhà trƣờng.
Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu giáo dục giá trị sống cho HS tiểu học, đồng thời các tác giả đã viết cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho HS Tiểu học” gồm hai phần. Đây là tài liệu bổ ích cho đội ngũ GV Tiểu học trong việc GDĐĐ lối sống cho HS hiện nay và đã đƣợc rất nhiều trƣờng Tiểu học sử dụng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành quản lý giáo dục của trƣờng Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã chọn vấn đề đạo đức để nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Thị Phi Nga đề cập đến một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kĩ năng sống cho HS các trƣờng Tiểu học ở thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh lại đề cập đến quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua Hoạt động Đội thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh ở trƣờng Tiểu học Lý Thƣờng Kiệt, Hà Nội. Tác giả Nguyễn Thị Thu Lan thì đề cập đến các giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cho HS Tiểu học tại thành phố Bắc Ninh và đề xuất 6 giải pháp quản lý để nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho HS Tiểu học. Tác giả Trần Đăng Sinh chủ biên Giáo trình đạo đức học (2008) - Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội đề xuất các phƣơng thức GDĐĐ cho HS. Tác giả Phạm Khắc Chƣơng – Nguyễn Thị Yến Phƣơng (1992), Đạo đức học.
Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội đề xuất một số phƣơng pháp GDĐĐ cho HS trong trƣờng phổ thông. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đƣa ra những vấn đề lý luận, hƣớng nghiên cứu và những định hƣớng rất cơ bản, quan trọng cho công tác GDĐĐ cho HS. Các công trình này tuy tiếp cận vấn đề GDĐĐ ở những góc độ khác nhau, song nó đã góp phần xây dựng lý luận về GDĐĐ. Rõ ràng, việc hình thành và phát triển nhân cách đạo đức tốt đẹp cho con ngƣời trong xã hội đã đƣợc các nhà khoa học xác định là một vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, đồng thời là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự sống còn và phát triển của nhân loại.
Trong khi đó, đến nay vẫn chƣa có đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động GDĐĐ ở trƣờng Tiểu học Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang. Vì vậy, khi lựa chọn đề tài Quản lí GDĐĐ tại trƣờng Tiểu học Phan Thiết để nghiên cứu, tác giả mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng GDĐĐ cho HS Tiểu học. Những nghiên cứu ở nước ngoài Thời cổ đại ở phƣơng Đông, Khổng Tử (551-479-TCN); nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo. Ông coi trọng vai trò 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phƣơng pháp giáo dục cũng nhƣ về tâm lý học.
Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục đƣợc ghi trong Tứ thƣ và Ngũ Kinh. Nhƣng cụ thể và tập trung nhất trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ. Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thƣơng ngƣời, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con ngƣời. Đứng trên lập trƣờng coi trọng GDĐĐ, có chủ trƣơng nổi tiếng truyền lại cho đến nay “Lễ trị”, lấy “Lễ” để xử ở đời.
Muốn có đƣợc nhân cách tốt mọi ngƣời phải biết tu thân làm gốc. Nhà triết học phƣơng Tây Socrates (470 - 399 - TCN) đã cho rằng hành vi đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, hỗ trợ nhau. Có đƣợc đạo đức tốt là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Chủ trƣơng đạo đức của Socrates là tri thức và đạo đức là một nghĩa, là muốn sống phải tri thức và chỉ cần có tri thức về nhận thức là sống nhân đức Rabơle (1494 – 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tƣ tƣởng giáo dục thời kỳ phục hƣng.
Ông cho rằng giáo dục phải bao hàm nội dung “Trí dục, Đức dục, Thể dục, Mỹ dục” và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục nhƣ việc học tập ở lớp và ở nhà. Quá trình dạy học – giáo dục theo tác giả Komensky (“Thiên đƣờng của trái tim” trích từ “ Khoa sƣ phạm vĩ đại”) đƣợc thể hiện: Đào tạo con ngƣời toàn diện (kiến thức kết hợp đạo đức và đức tin). Dù thời đại nào, dù ở Việt Nam hay thế giới, mục tiêu giáo dục có thay đổi nhƣ thế nào, và dù trong xã hội nào, GDDD vẫn luôn là một mục tiêu vô cùng quan trọng và đƣợc các nền GD trên thế giới coi trọng 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Đạo đức Hệ thống những quy tắc, những chuẩn mực mà qua đó con ngƣời tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể và cộng đồng đƣợc gọi Đạo đức.