phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ TTCM ở trƣờng THPT. Thực trạng quản lý đội ngũ TTCM ở các trƣờng THPT tỉnh Lạng Sơn. Biện pháp quản lý đội ngũ TTCM ở các trƣờng THPT tỉnh Lạng Sơn.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Bƣớc vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới đang chuyển sang giai đoạn phát triển nền kinh tế tri thức; để đảm bảo cho sự phát triển của nó thì yếu tố Giáo dục và Đào tạo, khoa học và công nghệ đƣợc coi là nguồn lực quyết định. Do đó yêu cầu về chất lƣợng Giáo dục và Đào tạo ngày càng cao để đào tạo ra những lớp ngƣời lao động năng động, trí tuệ, làm chủ công nghệ thông tin. Để nâng cao chất lƣợng Giáo dục và Đào tạo thì việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có ý nghĩa quyết định.
Trong nhiều năm qua, đã có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ, nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; tuy nhiên việc nghiên cứu về quản lý đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn ở các trƣờng THPT tỉnh Lạng Sơn thì chƣa có đề tài, tác giả nào nghiên cứu. Vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý nói chung, trong đó quản lý đội ngũ TTCM nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng giáo dục THPT hiện nay. Đề tài luận văn này nghiên cứu sơ lƣợc cơ sở lý luận và một số khía cạnh về thực trạng quản lý đội ngũ TTCM ở các trƣờng THPT tỉnh Lạng Sơn. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp quản lý đội ngũ TTCM ở các trƣờng THPT tỉnh Lạng Sơn góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục cấp THPT tỉnh nhà.
Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm, khi con ngƣời biết hợp sức lại với nhau nhằm thực hiện những yêu cầu nhất định và mục tiêu nhất định. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nền kinh tế xã hội hiện đại, đặc biệt là nền kinh tế tri thức, thì quản lý ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đƣa tri thức vào để điều khiển các hoạt động của xã hội. Có nhiều khái niệm khác nhau: Quản lý là nghệ thuật nhằm đạt mục đích thông qua nỗ lực của ngƣời khác.
Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt đƣợc những mục đích của tổ chức. Là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trƣờng đang biến động. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lý đƣợc định nghĩa là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [49, tr. 789] Quản lý là một hoạt động có chủ đích, đƣợc tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý.
Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý nhƣ xác định mục tiêu, các chủ trƣơng, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản nhƣ tài lực, vật lực, nhân lực…để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Trong tác phẩm “Lý luận quản lý nhà nƣớc” của Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý nhƣ sau: Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài ngƣời thì đã xuất hiện sự quản lý. Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con ngƣời phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con ngƣời phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm quản lý có ngoại diên rất rộng, từ việc ăn uống đến sinh lão bệnh tử, từ cá nhân đến gia đình, từ quốc gia đến thế giới, từ vật chất đến tinh thần, nơi nào có sự hiện diện của con ngƣời thì đều cần đến quản lý.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý nhƣ là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạt, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội đƣợc phối hợp lại.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng”.180] Về khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: - F. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. - Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, khái niệm về quản lý đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [27, tr. - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến” [32, tr. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể rút ra nhận xét sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhƣng những định nghĩa trên đều thể hiện đƣợc bản chất của hoạt động quản lý đó là hoạt động quản lý nhằm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lƣợng mới.
Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm ngƣời có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những ngƣời thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu con ngƣời, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý.
Tóm lại, chúng ta có thể khái quát: Quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. - Quản lý phải bao gồm các yếu tố (điều kiện) sau: + Có (ít nhất một) chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể QL và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể QL. + Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tƣợng QL và chủ thể QL. + Chủ thể phải thực hành việc tác động và phải biết tác động.
Vì thế đòi hỏi chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tƣợng một cách có hiệu quả. + Chủ thể QL có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan QL, còn đối tƣợng QL có thể là con ngƣời, giới vô sinh hoặc sinh vật. + Khách thể là các yếu tố tạo nên môi trƣờng của hệ thống. - Mục tiêu của quản lý là đạt giá trị tăng cho tổ chức.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý giáo dục Đối với cấp vĩ mô: - Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trƣờng) nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. Hoặc: - Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vƣợt trội/tính trồi (emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ƣu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đƣa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trƣờng bên ngoài luôn biến động. Hoặc: - Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.