phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án gồm 3 chƣơng. - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý ĐNGV trƣờng THPT chuyên trong bối cảnh đổi mới giáo dục. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý ĐNGV trƣờng THPT chuyên trong bối cảnh đổi mới giáo dục. - Chƣơng 3: Biện pháp quản lý ĐNGV trƣờng THPT chuyên trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về giáo viên trường THPT Việc nghiên cứu vấn đề về xây dựng và phát triển ĐNGV trong giáo dục đƣợc các nƣớc trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách giáo dục, chấn hƣng, phát triển đất nƣớc. Trong việc xây dựng và phát triển ĐNGV yếu tố đƣợc coi trọng và yêu cầu hàng đầu là “Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục, trình độ và tinh thần của GV nhưng điều chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ” V.
Đứng trƣớc mục tiêu đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về GV trƣờng THPT, tuy nhiên, tổng quan lại các công trình nghiên cứu thƣờng đi vào các nội dung: * Về bồi dưỡng năng lực cho giáo viên Trong nghiên cứu của mình về đào tạo GV, tác giả Michel Develay đã bắt đầu từ lí luận về học đến lí luận về dạy để nghiên cứu về đào tạo, bồi dƣỡng GV. Theo ông: “Đào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, định lí, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [90]. Từ đó ông đã đề cập đến nội dung, cách thức đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ và bản sắc nghề nghiệp cho GV. dựa trên các chuẩn nghề nghiệp theo từng môn học.
Công trình nghiên cứu chung của các nƣớc thành viên OECD đã chỉ ra các yêu cầu của một GV bao gồm: kiến thức phong phú về phạm vi chƣơng trình và phạm vi bộ môn mình dạy; kĩ năng sƣ phạm; có tƣ duy phản ánh, năng lực, tự phê; biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; có năng lực quản lí. Tuy nhiên trên thực tế một số GV trƣờng THPT vẫn chƣa đáp ứng đƣợc những yêu cầu trên, từ đó cho thấy năng lực của một số GV này còn nhiều hạn chế. Tại Hội thảo Khoa học Chất lƣợng giáo dục và vấn đề đào tạo GV do Khoa Sƣ phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 4/2004, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả nhƣ Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Đặng Xuân Hải… đã đề cập đến việc đào tạo, bồi dƣỡng ĐNGV trƣớc yêu cầu mới [110]. Các tác giả đã chỉ ra những hạn chế về năng lực, nghiệp vụ chuyên môn 11 của GV, những yếu tố ảnh hƣởng đến GV hiện nay, những tác động mà các yếu tố mang lại, đồng thời các tác giả cũng đƣa ra nhiều biện pháp nhằm khắc phục những tồn tại trên nhƣ các biện pháp bồi dƣỡng, nâng cao năng lực sƣ phạm cho GV, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiên cứu khoa học.
các biện pháp trên đều đƣợc đánh giá là khả thi cao. Trong bài viết “Cải cách sư phạm và đổi mới mô hình đào tạo GV THPT” (2010), [39]. tác giả Trần Khánh Đức đã nêu rõ những yêu cầu mới của xã hội và nền giáo dục hiện đại đối với ĐNGV. Tác giả đã nêu bật đƣợc vị trí, vai trò của GV trƣờng THPT hiện nay, đồng thời có đánh giá khách quan về những năng lực hiện nay của GV trƣờng THPT, từ đó đề xuất đƣợc các biện pháp, mô hình tổng thể về phẩm chất, nhân cách ngƣời GV và các đề xuất nội dung chuyển đổi mô hình đào tạo GV ở các trƣờng Đại học sƣ phạm.
Kết quả nghiên cứu của tác giả Cao Đức Tiến về đề tài: “Các mô hình đào tạo giáo viên THPT”, đã đánh giá việc bồi dƣỡng thƣờng xuyên theo chu kì đã tạo ra đƣợc một thói quen tự học tập, tự bồi dƣỡng trong toàn thể GV trên phạm vi cả nƣớc. Nhu cầu đƣợc bồi dƣỡng thƣờng xuyên đã trở thành ý thức tự giác trong mỗi GV, nhằm cập nhật hoá kiến thức, từng bƣớc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục [101]. Tác giả Trần Bá Hoành đã đƣa ra cách tiếp cận chất lƣợng GV trƣờng THPT từ các khía cạnh nhƣ đặc điểm lao động của ngƣời GV, sự thay đổi chức năng của GV trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lƣợng từng GV và ĐNGV. Theo tác giả, có 3 yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng GV, đó là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dƣỡng GV; hoàn cảnh, điều kiện lao động sƣ phạm của GV; ý chí thói quen và năng lực tự học của GV.
Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra 3 giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dƣỡng và đổi mới việc sử dụng GV [59]. Trong bài viết đăng trên Tạp chí Giáo dục (tháng 01/2012), các tác giả Bùi Minh Đức, Đào Thị Việt Anh, Hoàng Thị Kim Huyền đã bàn về việc “Đổi mới mô hình đào tạo GV trong các trường đại học sư phạm theo hướng tiếp cận năng lực”, bài viết đã nêu ra mô hình đào tạo GV ở các nƣớc có nền giáo dục tiên tiến. Cùng với việc đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông theo hƣớng tiếp cận năng lực, các chƣơng trình đào tạo và bồi dƣỡng GV cũng đƣợc cải tiến, điều chỉnh, thậm chí đổi mới toàn bộ theo chủ trƣơng hình thành và phát triển các năng lực nghề nghiệp cho GV. Các tác 12 giả cũng đã đề xuất giải pháp đổi mới việc đào tạo GV nhƣ: Các trƣờng sƣ phạm đào tạo GV cần đổi mới chƣơng trình theo hƣớng tiếp cận năng lực; Chƣơng trình đào tạo GV trƣớc hết cần xác định đƣợc hệ thống các năng lực chung - những năng lực mà sinh viên của các ngành cần phải có và những năng lực riêng (năng lực môn học) cho sinh viên các ngành cụ thể; Đội ngũ giảng viên phải có những năng lực cần thiết và nhất là phải giỏi những năng lực môn học cụ thể, thay đổi nhận thức, kĩ năng, phƣơng pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; Công tác quản lí, tổ chức đào tạo của các bộ phận chức năng trong trƣờng cũng phải thay đổi theo hƣớng tiếp cận năng lực học sinh.
* Về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông Chuẩn nghề nghiệp của GV tại các bang của Mĩ đƣợc xây dựng nhằm mục đích làm cho GV nâng cao kiến thức của nội dung môn học; cải thiện sự hiểu biết về học thuật, xã hội, tinh thần và vật chất bảo đảm thầy giáo tận dụng đƣợc các kĩ năng dạy học để giúp học sinh đạt đƣợc và vƣợt qua; phản ánh đầy đủ và sáng tỏ những kiến thức cần thiết có liên quan về những bài học và kinh nghiệm nghề nghiệp, tạo đồng thuận về chính kiến nghề nghiệp, dạy học và lãnh đạo; khuyến khích thầy giáo phát triển sự đa dạng của lớp học nhờ các kĩ năng đánh giá; cung cấp những bài học mới có tính tích hợp vào trong chƣơng trình và trong lớp học; trang bị cho học sinh đủ kiến thức để học tập và phát triển; đánh giá định kì để tạo ra tác động của nó đối với hoạt động dạy và học; nhà giáo cần phải nắm đƣợc, tận dụng và hỗ trợ phát triển các mối quan hệ cộng đồng rõ ràng, gắn bó, có kế hoạch; phát triển văn hóa trƣờng học để giúp cho việc thực hiện liên tục, xử lí các thách thức về vai trò và các quan hệ truyền thống trong giáo dục; có kế hoạch phát triển nghề nghiệp bao gồm cả sự xem xét về trí tuệ và tài chính; bố trí đủ thời gian trong số các giờ làm việc để thu hút sự tham vấn ý kiến của ngƣời học nhằm hỗ trợ cho sự phát triển nghề nghiệp; làm việc có hiệu quả với cha mẹ học sinh và cộng sự. GV của Đức phải đạt đƣợc 10 năng lực nghề nghiệp thuộc 4 nhóm, gồm: Năng lực dạy học; Năng lực giáo dục - nghĩa hẹp; Năng lực đánh giá; Năng lực đổi mới. Quy định về tiêu chuẩn nghề nghiệp GV của Anh rất cụ thể, đó là: Thiết lập những kinh nghiệm học tập linh động và sáng tạo cho các cá nhân và các nhóm; đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ, khả năng đọc viết và toán học; xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính thử thách về mặt trí tuệ; xây dựng những kinh nghiệm học tập phù hợp, có mối liên kết với thế giới bên ngoài trƣờng học; xây dựng những kinh 13 nghiệm học tập mang tính tổng quát và có sự tham gia; kết hợp công nghệ thông tin và liên lạc để tăng hiệu quả việc học tập của học sinh; đánh giá và báo cáo việc học tập của học sinh; hỗ trợ việc phát triển và tham gia xã hội của giáo viên; tạo ra môi trƣờng học tập an toàn và mang tính hỗ trợ; xây dựng những mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn; đóng góp vào những nhóm nghề; tham gia thực hiện những hoạt động của nghề giáo. Công trình nghiên cứu chung của các nƣớc thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một GV cần có các phẩm chất [Dẫn theo Nguyễn Lộc - Mạc Văn Trang - Nguyễn Công Giáp, 82]: Kiến thức phong phú về phạm vi chƣơng trình và nội dung bộ môn mình dạy; Kĩ năng sƣ phạm, kể cả việc có đƣợc “kho kiến thức” về phƣơng pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phƣơng pháp đó; Có tƣ duy phản ánh trƣớc mỗi vấn đề và có năng lực tự phê; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học.
Tại Hội thảo nghiên cứu về “Chuẩn và chuẩn hóa trong giáo dục” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà sƣ phạm, nhà giáo dục nhƣ Đặng Thành Hƣng, Nguyễn Bá Thái, Nguyễn Thị Minh Hƣơng … đã bàn luận nhiều về chuẩn nghề nghiệp GV để phát triển nghề nghiệp GV.