Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TAY NGHỀ CHO HỌC SINH, SINH VIÊN 1. Lý luận chung về quản lý và quản lý chất lượng 1. Khái niệm chung về quản lý, quản lý giáo dục 1. Khái niệm chung về quản lý Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
(Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Đại cương lý luận quản lý, Khoa Sư Phạm- Đại học Quốc gia Hà Nội). Quản lý là một quá trình động liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại, có nhiều quan điểm về khái niệm quản lý, theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì : Quản là giữ gìn , cai trị, duy trì biết tạo ra sự ổn định cho mình và cho cộng đồng. Lý là chỉnh sửa, biết tạo ra sự phát triển, đổi mới cho mình và cho cộng đồng.
Quản lý là đưa tới sự ổn định và phát triển, chống lại cái lạc điệu, lạc hậu. Theo Các Mác: “Một nghệ sỹ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng”. Theo tác giả Bùi Sĩ thì: quản lý là một danh từ khó định nghĩa, hầu như mỗi nhà thực hành quản lý hay nghiên cứu quản lý đều có cách định nghĩa riêng của mình. Tác giả có đưa ra một số khái niệm về quản lý như sau: Quản lý là đạt kết quả thông qua con người, đây là một định nghĩa muốn nhấn mạnh yếu tố con người trong quản lý.
47 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một tiến trình theo đó một tập thể hợp tác với nhau, hướng các hoạt động của mình vào mục đích chung. Định nghĩa này muốn nhấn mạnh đến tính phân công và hợp tác của lao động tập thể vì mục tiêu chung. Quản lý là sự lãnh đạo hệ thống trên cơ sở hoạch định tổ chức, phối hợp, điều khiển và kiểm tra công việc nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Định nghĩa này muốn nói đến sự lãnh đạo hệ thống bằng các chức năng quản lý.
Quản lý là những hoạt động có tính tổ chức dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng các qui luật khách quan nhằm đưa ra các quyết định và thực hiện các quyết định đó. Đây là một định nghĩa được tiếp cận theo lý thuyết ra quyết định, coi quyết định là mấu chốt của quản lý, đồng thời định nghĩa này cũng nhấn mạnh tính khoa học của quản lý. Quản lý là một nghệ thuật; nghệ thuật khai thác tiềm năng của sản xuất kinh doanh. Định nghĩa này lại nghiêng về tính nghệ thuật của thực hành quản lý.
Quản lý là sự tác động có hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những kết quả tốt nhất với mục tiêu đã định trước. Định nghĩa này muốn nói tới tính chất hành động vì mục tiêu quản lý. Quản lý là những hoạt động do người đứng đầu tổ chức, gọi là nhà quản lý thực hiện nhằm tạo điều kiện cho tổ chức hoạt động và đạt đến mục tiêu. “Bùi Sĩ, Một số vấn đề về quản lý giáo dục nghề nghiệp.
Chuyên đề bồi dưỡng sư phạm bậc 2 cho giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo,Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội 1995”. Hiện nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa như sau: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (Chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra. 47 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quan điểm tác giả đề tài, để phù hợp với đề tài thì khái niệm về quản lý được định nghĩa như sau: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục đích đã định. Quan hệ cơ bản trong quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong các hoạt động giáo dục. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao. Theo tác giả Đặng Xuân Hải thì: quản lý giáo dục là quá trình tác động có chủ đích, hợp qui luật của chủ thể QLGD/nhà trường lên khách thể/đối tượng (GDNT) nhằm đạt được mục tiêu dự kiến.
Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục không chỉ đơn thuần là các hoạt động của ngành giáo dục- đào tạo mà còn là các hoạt động của toàn xã hội, nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển. Đảng ta cũng đã xác định: sự nghiệp giáo dục là của toàn dân, Bác Hồ đã từng nói: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Khái niệm về quản lý hoạt động dạy học thực hành Quản lý hoạt động dạy và học là quản lý việc chấp hành các qui định, điều lệ, chế độ, nội qui. về hoạt động giảng dạy của giảng viên, giáo viên và hoạt động học tập của học sinh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành có nề nếp, ổn định một cách nghiêm chỉnh có hiệu quả và chất lượng cao.
47 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý hoạt động dạy học thực hành là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động dạy học thực hành đạt tới mục đích đã định. Khái niệm về chất lượng, chất lượng dạy học thực hành 1. Khái niệm về chất lượng Theo tài liệu “Bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế và dạy nghề” của Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, thì hiện nay khái niệm về chất lượng có nhiều điểm không rõ ràng, nguyên nhân của điều này là do từ: “chất lượng” được dùng cho cả hai quan niệm: chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối (điều này không chỉ xảy ra ở nước ta mà là hiện tượng chung của nhiều nước trên thế giới). Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ chất lượng được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua.
Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao (high quality), hoặc chất lượng hàng đầu (top quality).“Đó là cái chúng ta chiêm ngưỡng, nhiều người trong chúng ta muốn có, và chỉ có số ít người trong chúng ta có thể có”. Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ chất lượng dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán cho sản phẩm đồ vật, theo quan niệm này thì một đồ vật, một sản phẩm hoặc một dịch vụ được xem là chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà nhà sản xuất định ra, và các yêu cầu mà nhà tiêu thụ đòi hỏi. Từ đó dễ dàng thấy rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là đạt được mục tiêu, (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là: “chất lượng bên trong”. Khía cạnh thứ hai chất lượng được xem là thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của người dùng (khách hàng) đây được coi là “chất lượng bên ngoài”.
47 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ được uỷ thác, nhiệm vụ này thường do các chủ sở hữu qui định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường. Từ nhiệm vụ được uỷ thác này nhà trường xác định mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, khi đó gọi là “chất lượng bên ngoài”. Các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt mục tiêu đó thì được gọi là “chất lượng bên trong”. Theo nhóm các tác giả: Bùi Minh Hiền- Vũ Ngọc Hải- Đặng Quốc Bảo, nói về chất lượng như sau: Có một số khái niệm khác về chất lượng, thuật ngữ “chất lượng” phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác.
Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng, (quá trình tích luỹ, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật hiện tượng. Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, chất lượng sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu chế tạo, qui trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính sử dụng kể cả về mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Các đặc tính chất lượng có thể được thể hiện tường minh qua các chỉ số kỹ thuật, mỹ thuật, mức tiêu thụ sản phẩm trên thị trường và có thể so sánh dễ dàng với các sản phẩm khác cùng loại có giá trị, giá cả khác nhau. Chất lượng là mức độ hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản (Oxford Pocket Dictionary).
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra, hoặc nhu cầu tiềm ẩn (Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402). 47 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác (Từ điển Tiếng Việt thông dụng). Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng (Tiêu chuẩn Pháp NFX50- 109). (Bùi Minh Hiền- Vũ Ngọc Hải- Đặng Quốc Bảo.
Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, 2006) Chất lượng là cái khác biệt có thể khách quan hoá qua thực nghiệm giữa một bên gồm chủ ý và nỗ lực thực hiện chủ ý này (đầu vào) và một bên gồm thành quả đạt được và mức độ đạt được chủ ý ban đầu (đầu ra).