Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MÔN HOÁ HỌC - SINH HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Tập trung vào kinh nghiệm quản lý đội ngũ giáo viên, cụ thể như sau: * Nền giáo dục của một số nước phát triển Giáo dục của Phần Lan Hiện nay, Phần Lan là nước có nền giáo dục phát triển nhanh. Theo kết quả của Dự án đánh giá học sinh quốc tế (PISA), trình độ học sinh Phần Lan luôn xếp hàng đầu. Nguyên nhân của thành tựu giáo dục là nhờ Phần Lan chú trọng quản lý, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông. Triết lý và quy trình đào tạo khoa học của họ đã giúp đào tạo ra được những GV có trình độ cao mà ít quốc gia nào theo kịp.
Nghề GV được xã hội rất coi trọng. Những HS được chọn đào tạo trở thành GV đều là các em đam mê, tâm huyết và đa tài, có kĩ năng sư phạm. Chương trình đào tạo GV ở Phần Lan chú trọng trang bị kiến thức khoa học và kỹ năng phát triển con người theo độ tuổi. Công tác bổ túc và bồi dưỡng ĐNGV ở Phần Lan được tổ chức công phu.
Có nhiều cơ quan tổ chức khóa học bổ túc và bồi dưỡng GV khác nhau. Ở mỗi trường đại học có một trung tâm bồi dưỡng GV và mỗi địa phương có một trường đại học mùa hè, tổ chức nhiều khóa học bồi dưỡng GV. Nhờ vậy, GV Phần Lan không chỉ đơn thuần là một nhà giáo mà được xem là nhà nghiên cứu về giáo dục độc lập và họ luôn luôn tự học, tự bồi dưỡng không ngừng. Giáo dục của Mỹ: Luôn đứng đầu thế giới về khoa học và công nghệ, Mỹ được coi là quốc gia đầu tiên xây dựng chuẩn GV làm cơ sở để tuyển chọn và đánh giá giáo viên.
Thông điệp Liên bang của Tổng thống Hoa Kỳ tháng 02 năm 1997 đã nêu 10 vấn đề của giáo dục trong đó nhấn mạnh: “Để có trường học tốt nhất cần phải có giáo viên giỏi nhất”. Khi quyết định đưa vị trí của giáo dục lên hàng đầu, Chính phủ Mỹ lấy giải pháp bồi dưỡng phát triển ĐNGV làm then chốt. Với phương châm “giáo dục nhằm hình thành năng lực”. Mỹ đã thiết kế, xây dựng chương trình giáo dục và đào tạo đa dạng cho mọi công dân để họ được trang bị kiến thức, kỹ năng và tay nghề cần có cho thế kỷ XXI; giúp người học có khả năng theo sát được những thay đổi đang và sẽ diễn ra; chú trọng “dạy cách học và học cách học”, coi trọng “cách tự học sáng tạo”.
Mỹ chủ trương tuyển chọn GV mới, trả lương cao cho GV giỏi, đưa những GV có chất lượng chuyên 7 môn kém ra khỏi cơ sở GD. Trong đào tạo bồi dưỡng GV, công nghiệp là nơi để GV thực nghiệm tư duy mới, cách làm mới. GV được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về trình độ, năng lực của mình, GV có quyền phát triển ý tưởng mới. Coi trọng nguyên tắc “học qua hoạt động”, xây dựng bộ tiêu chí gồm 13 kỹ năng then chốt cần được GD&ĐT để các cơ sở đào tạo sáng tạo một tầm nhìn dựa trên các yếu tố: Hình ảnh của nhà trường sẽ thế nào?; Những kết quả hoạt động; Những giá trị nền tảng; Văn hóa của tổ chức.
Như vậy, coi trọng sự khơi dậy và phát triển tiềm năng con người, kết nối sự cộng tác trong công việc một cách bình đẳng vì lợi ích chung của tổ chức là một trong những bài học thành công của Mỹ về giáo dục và đào tạo. Giáo dục của Nhật Bản: Nhật Bản luôn quan niệm: “GV là người con của cao quý, là người lao động, là nhà chuyên nghiệp”, do đó họ rất quan tâm đào tạo GV và đề ra các chế độ, chính sách đãi ngộ GV trong đó lương được xếp theo từng loại GV và trình độ giáo dục. Là cường quốc kinh tế thế giới vươn lên từ đống tro tàn của Chiến tranh thế giới thứ II (1945) với những nỗ lực phi thường và chiến lược phát triển GD khôn ngoan, Nhật Bản luôn quan tâm phát triển giáo dục. Nghèo về tài nguyên, nhưng đặc biệt chú trọng đến GD nhằm phát triển nguồn vốn con người.
Nhật Bản đã rất thành công. Giáo dục của Hàn Quốc: GD Hàn Quốc đã xác lập các mục tiêu: nhân đạo, sự trong sạch, CNTT, phúc lợi con người và tinh thần cởi mở. GD nhằm giúp cho thế hệ trẻ trở thành một con người tự lập với tinh thần độc lập, một con người sáng tạo độc đáo và một con người đạo đức vững chắc và tinh thần dân chủ. Để thực hiện được mục tiêu trên chính phủ Hàn Quốc luôn ưu tiên chính sách thu hút người giỏi vào học ngành sư phạm, cấp học bổng cho 40% sinh viên.
Việc tuyển chọn GV do Sở Giáo dục thực hiện thông qua kiểm tra công khai. Hàn Quốc rất coi trọng ĐNGV chất lượng cao, do đó, đã tập trung xây dựng các trường đại học, viện nghiên cứu trung tâm có chất lượng, tuyển chọn thầy giỏi để giảng dạy các chương trình đào tạo nguồn nhân lực, luôn đổi mới trong nội dung đào tạo, bồi dưỡng GV. Nhờ có sự đầu tư đúng hướng, xác định vai trò quan trọng của ĐNGV, nhất là GV có chất lượng cao nên chất lượng giáo dục của Hàn Quốc có thể ngang tầm với các nước tiên tiến. * Nền giáo dục của một số nước trong khu vực Giáo dục của Trung Quốc: Mục tiêu của Trung Quốc là chiến lược “làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và giáo dục”.
Họ nhận định khi giáo dục phát triển thì ưu thế to lớn về nguồn nhân lực con người sẽ không nước nào sánh nổi. Trong Chiến lược cải cách và phát triển GD của Trung Quốc có đoạn viết: “Chấn hưng tương lai dân tộc là giáo dục. 8 Chấn hưng tương lai giáo dục là người thầy”. Như vậy, muốn phục hưng dân tộc phải dựa và GD mà muốn phục hưng GD phải dựa vào đội ngũ nhà giáo.
Cho nên trong những thập kỉ qua, Trung Quốc ưu tiên xây dựng, phát triển và chuẩn hóa ĐNGV trong đó ưu tiên GV giỏi cho hệ thống các trường điểm, củng cố ĐNGV trường điểm đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và mạnh về chất lượng. Theo đó, muốn có ĐNGV mạnh, tốt thì việc đầu tiên cần phải xây dựng là cải cách tốt các trường sư phạm. Tại Trung Quốc, để thu hút được nhiều người học lựa chọn nghề GV, họ đã nỗ lực đưa nghề dạy học trở thành một nghề hấp dẫn và được tôn trọng hơn, chính phủ đã hỗ trợ cho các khoản tăng lương cho GV, miễn phí học đại học sư phạm, đồng thời thu nhập lương của GV được dựa trên yếu tố như trình độ đào tạo, số năm công tác, cấp bậc chức vụ hành chính và kĩ thuật. Chính phủ cũng đã chọn ngày 10/9 hằng năm làm ngày vinh danh nhà giáo; nghề dạy học trở thành nghề đầu tiên ở Trung Quốc có một ngày kỉ niệm riêng.
Sau 02 thập kỉ tìm kiếm cách giải quyết vấn đề thiếu hụt ĐNGV, chính quyền các cấp ở Trung Quốc đã nâng cao vị thế xã hội cũng như lương của GV. Hiện nay, GV của Trung Quốc phải đạt các chuẩn về năng lực : xử lý giáo trình, tổ chức lớp học, sử dụng phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu trong dạy học, thăm dò dư luận, tìm hiểu kiến thức và năng lực của học sinh… Giáo dục của Thái Lan: Thái Lan tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo ĐNGV theo hướng GD thích ứng với một xã hội thịnh vượng, bình đẳng và có trình độ phát triển cao. Trong chiến lược cải cách GD ở Thái Lan thì hệ thống phát triển ĐN cán bộ, GV được chú trọng với mục đích khuyến khích nguồn nhân lực này có kiến thức và năng lực tham gia vào hệ thống GD quốc dân và phát triển ĐNGV đáp ứng yêu cầu xã hội. Họ đã tiến hành các biện pháp như: xúc tiến việc thiết lập một hệ thống liên tục phát triển ĐNGV và ĐN hỗ trợ chuyên môn trong các tổ chức GD; Phát triển số lượng các công trình nghiên cứu của GV thông qua tự học, đào tạo, bồi dưỡng; Xây dựng hệ thống liên kết, kết nối GV trong khối và GV cấp liên ngành, liên trường, trong nước và ngoài nước.
Mạng lưới này đã tạo được sự hợp tác, hỗ trợ và trao đổi lẫn nhau trên các lĩnh vực GD, dạy học, nghiên cứu và dịch vụ GD; Hội đồng trường được tăng cường vì họ đại diện cho Chính phủ với lợi ích cộng đồng trong QLGD. Hội đồng trường là cơ quan quyết định tầm nhìn/quan điểm và định hướng chiến lược phát triển nhà trường trong đó có ĐNGV. Giáo dục của Singapo: Đất nước này xác định: GV là nhân tố hàng đầu, tất cả lý thuyết đều có thể đúng với trường học, nhưng một nguyên tắc cơ bản là không có thầy giỏi, không thể có trò giỏi. Thầy giáo là người khai thác, phát triển các tiềm năng của HS.
Vì thế, họ 9 luôn quan tâm đến việc tuyển chọn, phát huy năng lực của GV, xây dựng cấu trúc mới về nghề nghiệp đối với GV theo hướng thăng tiến nghề nghiệp. Chính phủ và nhân dân luôn đòi hỏi mỗi nhà trường cần phải có một sự chuyển đổi đáng kể trong tư duy và trong thực tế, có nghĩa là có nhu cầu thay đổi và GV là những người học tập suốt đời, phải liên tục phát triển chuyên môn cho GV. Các công trình nghiên cứu trong nước Để nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường thì vai trò của các biện pháp quản lý là rất quan trọng. Nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường của các nhà nghiên cứu trong nước nhằm tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất, cụ thể như sau: Các tác giả nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng GV, quản lý ĐNGV ở phạm vi khác nhau như những nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí,.
Theo các tác giả Bùi Minh Hiền - Đặng Quốc Bảo cho rằng ĐNGV có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Vì ĐNGV đã tạo ra các sản phẩm có sự tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách - sức lao động”. Vì thế ĐNGV luôn cần có kỷ cương sư phạm, có tư cách, phẩm chất tốt, để luôn luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.