phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lí luận quản lí đội ngũ cán bộ quản lí trường Tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lí đội ngũ cán bộ quản lí trường Tiểu học tại Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lí đội ngũ cán bộ quản lí trường Tiểu học Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Quản lí nguồn nhân lực (Human Resource Management) liên quan đến hai vấn đề cơ bản “quản lí” và “nguồn nhân lực”. Hiện nay, trong lĩnh vực này có nhiều tác giả nhấn mạnh tính quản lí trong doanh nghiệp và quản lí trong lĩnh vực kinh doanh, do đó có sử dụng thuật ngữ “quản trị”. Cùng với thuật ngữ “nguồn nhân lực”, cũng có các cụm thuật ngữ “nhân sự”, “nhân lực” và do đó đã có nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về vấn đề quản lí yếu tố con người trong một tổ chức như “quản trị nhân sự”, “quản trị nguồn nhân lực”, “quản lí nhân lực”, “quản lí nguồn nhân lực” và với thuật ngữ mới là “phát triển nhân lực” hay “phát triển nguồn nhân lực” [25, tr.
Có thể nói, quản trị nhân sự là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp, bởi vì nó động chạm đến những con người cụ thể với những hoàn cảnh và nguyện vọng, sở thích, cảm xúc và văn hóa riêng biệt. Giáo sư người Mỹ Dinock cho rằng: “Quản trị nhân sự bao gồm toàn bộ những biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả những trường hợp xảy ra có liên quan đến một loại công việc nào đó” [25, tr. 1]; còn Giáo sư Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân sự là nghệ thuật chọn lựa những nhân viên mới và sử dụng những nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt tới mức tối đa có thể được” [25, tr. Gary Backer người ta đã trao giải thưởng Nobel kinh tế cho ông vì công trình mang tính lí thuyết về “Vốn con người” (The Human capital).
Ông đề nghị: “Các công ty nên đầu tư hợp lí cho chăm lo sức khỏe, giáo dục-đào tạo, nâng cao trình độ người lao động để đạt năng suất cao”. Sự phân tích về những thành công của nền kinh tế Nhật Bản qua nhiều năm đã cho thấy rằng, sở dĩ đưa lại sự thần kì kinh tế Nhật Bản, nguyên nhân thì có nhiều nhưng nổi bật nhất là chiến lược con người và chính sách nhân sự của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Qua việc thực hiện thành công chiến lược con người của các công ty Nhật cho thấy những yêu cầu đối với đội ngũ các nhà quản trị là: phải có tài năng thực sự, có tri thức, có đạo đức, có văn hóa, nghị lực và ý chí, có lối sống lành mạnh, trung thực, biết cách làm việc với con người, biết nghệ thuật quan tâm tới con người… Tạo được lòng tin yêu nơi người lao động và luôn là tấm gương, người bạn đồng hành với người lao động trên con đường tiến tới văn minh và hạnh phúc [25, tr. Các nhà quản trị phải là những người lãnh đạo, có tác động và ảnh hưởng tới hành vi và thái độ của những người khác sao cho họ tự giác, tích cực và đem hết khả năng để hoàn thành nhiệm vụ và đạt tới các mục tiêu của tổ chức.
Ở Việt Nam Cách đây 526 năm (1484-2010), trên tấm bia Tiến sĩ đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442 có khắc ghi những dòng chữ: ".Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Người soạn ra những câu nổi tiếng đó là vị Tiến sĩ triều Lê, Thân Nhân Trung. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về yếu tố cán bộ cho thấy “Đầu tiên là công việc với con người”, “.Vô luận việc gì đều do con người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Vấn đề cán bộ có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của một sự nghiệp” và Người cũng đã từng nói: “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong.
Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém - đó là một chân lí”. Lịch sử dân tộc ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới cho thấy triều đại nào, chính thể nào đánh giá đúng, sử dụng đúng người hiền tài thì triều đại đó, chính thể đó hưng thịnh. Ngược lại, triều đại nào, chính thể nào đánh giá sai, sử dụng sai người hiền tài thì triều đại đó, chính thể đó suy vong, mất nước, mất chế độ hoặc trì trệ không phát triển. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lí luận QLGD ở Việt Nam phổ biến từ thập kỉ 80 của thế kỉ trước với những người có công đầu truyền bá là các giáo sư: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, nhà nghiên cứu giáo dục Hà Sỹ Hồ.
Với xu huớng kế thừa và phát triển, các nhà nghiên cứu như Thái Duy Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Gia Quý, Trần Kiều, Phạm Viết Vượng. trong các công trình nghiên cứu của mình đã bàn về công tác QLGD và những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Tiêu biểu là các cuốn: “Đại cương khoa học quản lí” (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc); “Một số góc nhìn về phát triển và quản lí giáo dục” (Đặng Quốc Bảo và Bùi Viết Phú); “Những luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ CB trong thời kỳ CNH-HĐH” (Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm). Với việc vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và các nhà lí luận khác về giáo dục, về phát triển con người cũng như nền tảng phương pháp luận cho việc nhận thức vấn đề giáo dục và QLGD của đất nước, tập chuyên khảo “Quản lí giáo dục - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư), các tác giả đã kiến giải về chức năng trong quản lí nhà trường và sự điều hành một số công việc thực tế của nhà trường về nhân sự, về quản lí tài chính, CSVC và TBGD, hệ thống thông tin trong QLGD… giúp cho học viên các lớp cao học QLGD, cho nghiên cứu sinh thực hiện các đề tài nghiên cứu về QLGD và cũng là tài liệu tham khảo có ích cho cán bộ chỉ đạo phát triển giáo dục, CBQL các trường học và các cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong bất kì một lĩnh vực nào đó, để phát triển KT-XH của đất nước nói chung, cũng như trong sự nghiệp phát triển giáo dục nói riêng, bên cạnh việc hình thành chiến lược phát triển sự nghiệp giáo dục bao giờ cũng có chiến lược phát triển NNL. Điều này được khẳng định rõ nét nhất trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay đối với sự nghiệp giáo dục của Việt Nam. Nhiều nhà QLGD các cấp cũng đã có nhiều nghiên cứu, đề xuất những giải pháp quản lí, xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. Một số Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành QLGD có những tác giả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu cùng hướng với đề tài như: “Các giải pháp quản lí của Phòng Giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí trường tiểu học” của tác giả Nguyễn Văn Toàn, năm 2006; đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Quý Cao, năm 2010; đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trường tiểu học huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Hải Bằng, năm 2010; đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lí Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tại thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền, năm 2012.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lí đội ngũ CBQL (bao gồm Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng) trưởng Tiểu học trên địa bàn cả nước nói chung và tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nói riêng trong bối cảnh hiện nay. Đó là nội dung chính mà đề tài tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lí Hoạt động quản lí xuất hiện khi loài người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó.
Theo Henry Fayol (1841 – 1925), “Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Tác giả còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải làm là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”. Koontz, “Quản lí là hoạt động đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Mary Parker Pollett, “Quản lí là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”.
Thuật ngữ quản lí đã trở nên phổ biến, và đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Có người cho quản lí là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho quản lí là một hoạt động có mục đích của con người. Cho đến nay nhiều người cho rằng: quản lí chính là hoạt động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.