Chương 1, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/ H14 ngày 17/6/2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 thì doanh nghiệp được định nghĩa “là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”[49]. Ở Việt Nam, khái niệm về DNN được quy định tại Điều 4. Tiêu chí xác định DNNVV theo Luật Hỗ trợ DNN năm 2017 thì: - “DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: + Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; + Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. - Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ” [46; tr1].
- Chính phủ quy định chi tiết Điều này [46]. Tại Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNN V thì tiêu chí xác định DNN là: DNN được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa: 13 Luan van - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng; Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này; Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. - Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này; Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này [27].
Như vậy, khái niệm và tiêu chí phân loại DNN đã được pháp luật quy định cụ thể, đây là khung pháp lý hết sức quan trọng để Nhà nước quản lý 14 Luan van các DNN để định hướng các doanh nghiệp phát triển theo phương hướng, mục tiêu đề ra nhằm thúc đẩy KT-XH phát triển, hạn chế rủi ro trong quá trình phát triển của các DNN. Quản lý nhà nước Theo cuốn Thuật ngữ hành chính: QLNN là thuật ngữ để chỉ:“Hoạt động nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước”. Mặt khác trong cuốn sách đó, tác giả cũng đã nêu lên các cách hiểu khác nhau về quản lý nhà nước (cả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) [34] “QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [34] Từ những quan niệm về QLNN nêu trên, trong luận văn này tác giả hiểu theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của cá nhân, tổ chức, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Như vậy, QLNN là một hoạt động phức tạp và bao gồm nhiều chức năng.
Hoạt động QLNN phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các yếu tố đó tác động đến nội dung phương thức và công cụ để tiến hành quản lý. Một số yếu tố cơ bản cần chú ý là: - Yếu tố con người; - Yếu tố chính trị; - Yếu tố tổ chức; - Yếu tố quyền lực; 15 Luan van - Yếu tố thông tin. Quản lý nhà nước về doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo TS.
Nguyễn Thị Ngân thì “QLNN đối với DNNVV là sự tác động của nhà nước lên DNNVV, thông qua quá trình hoạch định, xây dựng, tổ chức, chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách liên quan đến văn bản quản lý và hỗ trợ DNNVV, kiểm soát hoạt động DNNVV, tạo ra môi trường phù hợp, công bằng, thuận lợi so cho DNNVV thực hiện được các sứ mệnh của mình với hiệu lực, hiệu quả cao một cách bền vững, phù hợp với mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước trong điều kiện biến động của của môi trường trong nước và quốc tế” [36, tr30]. LNN đối với doanh nghiệp là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền nhà nước lên các doanh nghiệp và vì mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước. QLNN về DNNVV là sự tác động của cơ quan quyền lực nhà nước bằng các phương thức công quyền đối với quá trình hình thành, hoạt động và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. LNN đối với doanh nghiệp còn được hiểu là việc sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp.
Việc can thiệp và điều chỉnh của nhà nước được thực hiện bằng công cụ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, bộ máy cơ quan LNN. Như vậy, QLNN về DNNVV là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của nhà nước thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế lên các DNNVV nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế để đạt được các mục tiêu phát triển doanh nghiệp đã đặt ra. Cần khẳng định rằng, QLNN về DNNVV không chỉ là các hoạt động quy hoạch, điều hành, kiểm soát sự phát triển của các DNNVV mà còn bao hàm cả hoạt động khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển của các DNNVV. QLNN về DNNVV bao gồm cả việc tạo lập môi trường pháp lý ổn định và bình đẳng cho các doanh nghiệp, xác lập chính sách khuyến khích đầu tư phát triển và 16 Luan van biện pháp xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, phối hợp đồng bộ trong việc cung cấp các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực đảm bảo thông suốt đầu vào và đầu ra cho doanh nghiệp.
Đặ điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Về ưu điểm - Tính chất hoạt động kinh doanh của DNNVV thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn. Đây chính là các ngành nghề có xu hướng tạo ra lợi nhuận cao trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các DNNVV. Trong đó cụ thể là: DNNVV là vệ tinh, chế biến bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn với tư cách là tham gia vào các sản phẩm đầu tư.
DNNVV thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú trong nền kinh tế như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ. Chính nhờ tính chất hoạt động kinh doanh này mà các DNNVV có lợi thế về tính linh hoạt. Có thể nói tính linh hoạt là đặc tính trội của các DNNVV, nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các DNNVV.
- Bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao. Do quy mô của DNNVV nên bộ máy điều hành được tinh gọn tối đa nên có tính linh hoạt cao, các bộ phận thược được tiết kiệm nhân sự và nguồn lực một cách tối đa để giảm chi phí về tiền lương và các chi phí hoạt động khác. Do bộ máy điều hành gọn nhẹ nên việc ra quyết định và thực hiện quyết định trong thực tiễn rất mau lẹ, đáp ứng được việc phản ứng nhanh nhạy với việc thực hiện các quy trình sản xuất, kinh doanh và tái cấu trúc doanh nghiệp khi cần. 17 Luan van - Khả năng sáng tạo cao và là thành viên chính của công nghiệp phụ trợ.
Các DNNVV khi khởi nghiệp mang trong mình khát vọng đổi thay lớn lao cũng như ý chí sáng tạo mạnh mẽ để tồn tại, thích nghi với môi trường sản xuất kinh doanh trong nước. Chính khả năng sáng tạo cao đã là lợi thế cho các DNNVV trong quá trình nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình. Ngoài ra, do tính chất linh hoạt và hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau nên các DNNVV có nhiều lợi thế trong việc tham gia vào hệ thống công nghiệp phụ trợ của nước nhà. Về nhược điểm - DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ.
Điều này đã tạo ra sự bất lợi nhất định cho DNNVV khi vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, đặc biệt là khi cạnh tranh với các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư của nước ngoài.