Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH ĐÌNH VĨNH KHÊ 1. Di sản văn hóa Văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, trong đó DSVH là một bộ phận cấu thành quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, di sản là "Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại" [53]. Ở nước ta, năm 2001 Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, thuật ngữ "di sản văn hóa" chính thức được ghi trong văn bản pháp quy cao nhất và được sử dụng phổ biến [13, tr.
Năm 2009 Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản thông qua luật số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009. Theo đó, "Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [13, tr. Điều 1 và Điều 4 của Luật Di sản văn hóa quy định: Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [13, tr. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và các hình thức khác [13, tr.
12 Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [13, tr. Như vậy, DSVH được lưu truyền qua nhiều thế hệ, biểu trưng cho nền văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Theo thời gian và năm tháng do ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai. nhiều di tích bị xuống cấp và có nguy cơ mai một.
Do đó cần có chính sách và giải pháp để bảo tồn, phát huy giá trị của di tích ở nước ta nói chung, Hải Phòng nói riêng trong đó có DTLSVH đình Vĩnh Khê trong giai đoạn phát triển mới của đất nước một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của làng Vĩnh Khê. Di tích Di tích là một bộ phận của DSVH, là thành tố quan trọng và là thông điệp từ quá khứ gửi lại cho các thế hệ mai sau. Thuật ngữ "di tích" được nhiều từ điển đề cập đến như: Theo Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa về di tích: "Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa lịch sử bất động" [53, tr.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học. Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy" [26, tr. Điểm qua một số khái niệm về di tích có thể thấy, khái niệm mà Từ điển Bách khoa Việt Nam đề cập đến khá đầy đủ, phù hợp với thực tiễn. Theo đó, di tích không chỉ được hiểu đơn thuần là di vật cổ, mộ, lăng tẩm, lăng mộ.
mà gồm rất nhiều những dấu vết do quá khứ để lại; đặc biệt những di tích này phải được pháp luật bảo vệ, không ai được phép tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy hệ thống các di tích đó. Khái niệm này sẽ 13 tạo tiền đề quan trọng trong công tác nghiên cứu cũng như bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích trong thời kỳ đổi mới. Di tích lịch sử văn hóa DTLSVH là tài sản văn hoá quý báu và là nguồn sử liệu quý giá mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế, là biểu tượng trong kho tàng văn hoá dân tộc và nhân loại. Mỗi quốc gia đều có những quan niệm khác nhau về DTLSVH.
Trong Hiến chương Vermice - Hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di chỉ, tại Điều 1 có định nghĩa: "Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn cả các khu đô thị hoặc nông thôn trong đó được tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trọng hay một sự kiện lịch sử" [24, tr. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tốn đã hội tụ được các ý nghĩa văn hóa của quá khứ. Ở Việt Nam khái niệm di tích theo Từ điển Bách Khoa: "Là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học. Di tích là di sản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy" [25, tr.
Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, DTLSVH được hiểu là "Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại"[53, tr. Giáo trình Bảo tồn Di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa định nghĩa về DTLSVH: "Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại" [47, tr. Trong cuốn Văn bản quản lý nhà nước về di sản văn hóa, Luật DSVH (năm 2001) có nêu: "Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây 14 dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [13, tr. Theo giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích được xếp hạng bao gồm: Di tích quốc gia đặc biệt, Di tích quốc gia và Di tích cấp tỉnh.
Đình Vĩnh Khê được Bộ VHTT công nhận là DTLSVH quốc gia vào năm 1994. Khái niệm đình làng Danh từ “đình” trong tiếng Việt hiện nay có nguồn gốc từ chữ Hán - Nôm. Chữ đình có nội hàm chỉ đơn vị tổ chức hành chính của Trung Hoa cổ. Trong công trình nghiên cứu: Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tác giả Lê Ngọc Hải có đề cập đến chữ đình như sau: Đình là: Một loại cơ cấu hành chính dưới Hương, thời Tần Hán.
Một loại kiến trúc nhỏ, phần lớn dùng các vật liệu như tre, gỗ, đá… xây nên. Mặt bằng nói chung có hình tròn, hình vuông, hình lục giác, hình bát giác, hình quạt… Thường xây trong rừng, vườn hoặc các nơi phong cảnh, danh thắng, để du khách xem ngắm, quan thưởng và nghỉ ngơi. Xây ở bên đường hay bên sông nước thì gọi là "lương đình", "trường đình". Ngoài ra còn có "tỉnh đình", "bi đình"… Cũng chỉ những kiến trúc nhỏ xây vì sự tiện lợi quần chúng về mặt nghiệp vụ, ví dụ như "bưu đình", "thư đình" [19, tr.
Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, mục từ Đình (quán), định nghĩa: Một kiến trúc thuộc dạng quán nghỉ. Đình hình thành từ khi người Việt khai thác đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng dáng dấp khởi nguyên đã mất, chỉ còn để lại hậu thân là những ngôi nhà ba gian nằm giữa ngã ba đường, ngoài cánh đồng quán… Trước đây, đình là nơi nghỉ tạm của dân làng khi đi làm đồng hoặc của khách 15 đường xa (trạm) vì thế thường có quán nước. Tại kinh đô có Dịch đình để làm nơi tiếp sứ thần ngoại quốc hoặc quan lại địa phương trú khi vào chầu vua [36].
Từ điển Bách khoa, tập 1, mục từ Đình, viết: Công trình kiến trúc công cộng của làng Việt Nam xưa, dùng làm nơi thờ thành hoàng và nơi họp việc làng. Có tài liệu cho rằng đình ra đời ở Bắc Bộ đời nhà Trần, lúc đầu dùng làm chỗ nghỉ ngơi của nhà vua khi đi thị sát dân tình, về sau mới dùng làm nơi thờ Thành hoàng [25]. Học giả Nguyễn Đăng Khoa định nghĩa: "Đình là đền thờ Thành hoàng làng - Đình được xây hơi xa nơi ở - Đình gồm một dãy nhà khá rộng có thể để được bàn thờ Thành hoàng, các đồ tế tự và có thể đủ cho mọi người trong làng đến hội họp những ngày hội" [27, tr. Nhà nghiên cứu mỹ thuật Phan Cẩm Thượng đã dẫn lời Ngô Thì Nhậm "Trời lấy đình để nuôi muôn vật, đất lấy đình để chứa muôn loài, người lấy đình để làm nơi tụ họp" để cho rằng: "đình thờ Thành hoàng làng và chủ yếu là nơi hội họp bàn việc làng, lễ hội có chức năng như Ủy ban, Nhà Văn hóa bây giờ" [46, tr.
Như vậy, đình là yếu tố vật chất quan trọng trong văn hóa làng. Đình là ngôi nhà chung của cộng đồng làng xã Việt Nam, là biểu tượng cho văn hóa làng Việt, khi nói đến làng Việt là nói đến cây đa - giếng nước - sân đình. Đình là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng tổng hợp ra đời từ thời Lê sơ, phản ảnh đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cộng đồng cũng như cấu trúc phân tầng trong làng xã. Theo tác giả Hà Văn Tấn: Đình là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam.
Nơi đây ba chức năng được thực hiện: hành chính, tôn giáo và văn hóa. Về chức năng hành chính, đình là chỗ để họp bàn các 16 việc làng, để xử kiện, phạt vạ. theo những quy ước của làng. Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần của làng, thường là mộ vị, nhưng cũng có nhiều khi nhiều vị, được gọi là "Thành hoàng" làng.
Về chức năng văn hóa, đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo, hay hát cửa đình - tức ca trù, một hình thức đã phát triển trong các thế kỷ trước, nơi tiến hành các lễ hôi, các trò chơi. Thực ra, các chức năng trên không bao giờ được tách bạch, mà đan xen hòa quyện với nhau. Quản lý di tích lịch sử - văn hóa 1.