chương I, điều 4, mục 11,12,13 nêu: “Bảo quản di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [41, tr. “Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh” [41, tr. 13 “Phục hồi di tích di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó” [41, tr. Tại chương IV, điều 34 Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải đảm bảo các yêu cầu sau: Giữ vững tối đa các yếu tố cấu thành di tích; Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố cấu thành gốc của di tích.
Đối với di tích cấp tỉnh phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích cấp Quốc gia và di tích Quốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương nơi có di tích [41, tr. Tại chương V, điều 54 Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định nội dung quản lý nhà nước về DSVH bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; Ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH; Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DTLS- VH tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị; Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy 14 giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khâu khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [41, tr. Cơ sở pháp lý quản lý di tích lịch sử văn hóa 1. Một số văn bản của Đảng và Nhà nước về quản lý di tích lịch sử văn hóa Nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng của di tích lịch sử văn hóa trong sự phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di tích lịch sử văn hóa.
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (7/1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã chỉ rõ 5 quan điểm và 10 nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, trong đó nêu rõ: Phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể [10, tr. Luật Di sản văn hóa (2001) được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX thông qua ngày 29/6/2001, có hiệu lực từ ngày 1/1/2002 đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý DTLS-VH ở nước ta. Quyết định số 1709/QĐ-BVHTT do Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL ký ngày 24/7/2001 phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy DTLS- VH và danh lam thắng cảnh đến năm 2010. Ngày 18 tháng 6 năm 2009 Quốc hội khóa XII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật di sản văn hóa (2009) số 32/2009/QH12.
Luật điều chỉnh những vấn đề mới, bổ sung, hoàn thiện những vấn đề đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đây cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. 15 Nghị định 98/2010/NĐ-CP, ngày 18/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009. Nghị định số 70/2012/NĐ-CP, ngày 18/9/2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII (1/2016) nêu định hướng phát triển văn hóa trong 5 năm tới: “Mọi hoạt động văn hóa, từ bảo tồn, phát huy các di sản lịch sử, văn hóa…đều phải phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người” [20, tr.
Có thể thấy, điểm đáng chú ý trong các đường lối chính sách, văn bản pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đảng và Nhà nước ta ở từng giai đoạn đó là tính nhất quán trong nội dung chỉ đạo. Văn bản sau tiếp thu, điều chỉnh phù hợp, tiến bộ và có giá trị hơn văn bản trước, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Các văn bản của địa phương về quản lý di tích lịch sử văn hóa - Quyết định số 2459/QĐ-UBND, ngày 14/8/2009 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt danh mục di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. - Quyết định số 307/2013/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều.
- Quyết định số 2622/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh đến 2020, tầm nhìn 2030. 16 - Quyết định số 2383/QĐ-TTg, ngày 09/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều là di tích cấp Quốc gia đặc biệt. - Quyết định số 313-VH/VP ngày 28/4/1962 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận Di tích khu vực đền và lăng Nhà Trần thuộc làng An Sinh (nay là xã An Sinh), huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là di tích cấp quốc gia. - Quyết định số 355/QĐ-UBND, ngày 20/02/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt đồ án Quy hoạch chung huyện Đông Triều đến năm 2020, định hướng ngoài 2025.
- Quyết định số 427/2014/QĐ-UBND ngày 28/02/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành quy chế quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh. - Thông báo 157/TB-UBND, ngày 17/7/2013 của UBND tỉnh Quảng Ninh về ý kiến kết luận và chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh về kế hoạch triển khai các dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo tại 03 di tích lịch sử, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng và phát triển. - Kế hoạch phát triển du lịch huyện Đông Triều giai đoạn 2013-2020, định hướng đến 2030. - Quyết định số 2502/QĐ-UBND ngày 19/8/2009 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế huyện Đông Triều đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 355/QĐ-UBND ngày 20/02/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc phê duyệt đồ án Quy hoạch xây dựng huyện Đông Triều đến năm 2025; định hướng ngoài năm 2025. - Quyết định số 775/QĐ-BXD ngày 07/7/2014 của Bộ Xây dựng về việc công nhận đô thị Đông Triều mở rộng (bao gồm toàn bộ diện tích: Các 17 thị trấn Đông Triều, Mạo Khê và các xã Xuân Sơn, Kim Sơn, Hưng Đạo, Đức Chính), huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV. Các văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa của Nhà nước cũng như của UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND thị xã Đông Triều chính là cơ sở để các địa phương trong đó có Ban quản lý di tích thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh thực hiện công tác quản lý DTLS-VH góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp mà cha ông ta để lại. Khái quát về di tích đền An Sinh, thị xã Đông Triều 1.
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Xã An Sinh nằm ở khu vực trung tâm thị xã Đông Triều, với diện tích 83,12 km2, là đầu mối mọi quan hệ chính trị, kinh tế văn hoá xã hội, quân sự của toàn thị xã [36,tr. Xã An Sinh cách phường Đông Triều 8 km về phía đông và cùng nằm trên quốc lộ 18A. Năm 1964, khi Đặc Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh được sát nhập lại để thành tỉnh Quảng Ninh, Đông Triều chính thức trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Ninh trong đó có xã An Sinh. Xã An Sinh có khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,4 oC. "Tháng giêng rét nhất, nhiệt độ trung bình 16,6oC, tháng 6 nóng nhất, nhiệt độ trung bình 28,oC. Độ ẩm trung bình hàng năm 81oC. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.
Giờ nắng trung bình trong một ngày là 4,4 giờ, ở đây đôi khi có sương mù vào cuối đông" [36,tr. Núi non ở An Sinh nằm trong hệ thống dãy núi Đông Triều gồm 3 dãy song song chạy từ tây sang đông. Dãy đầu tiên tính từ phía bắc là cao nhất, rồi các dãy thứ 2, thứ 3 thì thấp dần. Giữa khoảng cách các dãy đó là những dải đất màu mỡ có các xóm ở tập trung, từ dãy thứ nhất cao nhất là liên tiếp, còn các dãy kia đều đứt quãng luôn.Đồng bằng lớn ở An Sinh chiếm diện tích khoảng 92ha, lọt giữa hai dãy đồi núi thứ hai và thứ ba kể 18 trên.
Bề mặt đồng bằng An Sinh có độ cao chênh lệch từng chỗ khoảng 3 đến 4m, và tất cả đều cao hơn mực nước sông Kinh Thầy chừng 2m.