CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đối với di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Di sản văn hóa phi vật thể là những truyền thống văn hóa bao hàm yếu tố lịch sử, nghệ thuật, phong tục tập quán, quan hệ xã hội được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính đến tháng 12/2021, vùng trung du và miền núi phía Bắc có 08 di sản trong số 14 di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) ghi danh. Các di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh ở vùng trung du và miền núi phía Bắc phân loại thuộc hai hình thức, gồm: nghệ thuật trình diễn dân gian, và tập quán xã hội, tín ngưỡng.
Phân loại hình thức của các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở vùng trung du và miền núi phía Bắc Nghệ thuật trình diễn dân gian Tập quán xã hội và tín ngưỡng 1. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 1. Dân ca Quan họ 2. Nghi lễ và trò chơi Kéo co 2.
Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu 3. Hát Xoan Tam phủ của người Việt 4. Nghệ thuật Xòe Thái 4. Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Cổng thông tin điện tử của Cục Di sản văn hóa) Cho đến nay, rất nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đã tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu về các hình thức khác nhau của di sản văn hóa phi vật thể, hoặc từng di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh.
Trong đó, nhiều học giả tập trung nghiên cứu và công bố các công trình như sách, bài báo, tạp chí, tham luận, luận án có 10 nội dung liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở vùng trung du và miền núi phía Bắc, đơn cử như: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến hình thức nghệ thuật trình diễn dân gian Bài viết “Giá trị nghệ thuật trong dân ca Lào và trong hát Quan họ Việt Nam. Nét tương đồng - dị biệt” của học giả Bountheng Souksavatd (2006) [31, tr.653-656] đưa ra sự so sánh giữa nghệ thuật Khắp ngừm (dân ca Lào) và Quan họ (dân ca Việt Nam). Nghiên cứu chỉ ra giá trị nghệ thuật, văn học, thẩm mỹ, âm nhạc của từng loại hình, cũng như sự đóng góp của các loại hình nghệ thuật dân gian trong kho tàng dân ca châu Á.
Loại hình dân ca Khắp ngừm và Quan họ của hai nước Việt Nam, Lào tuy có những điểm khác nhau, nhưng cũng có nhiều nét tương đồng về kỹ thuật, làn điệu, nghệ thuật trình diễn, lịch sử, cách truyền dạy. Quan họ là một trong rất nhiều di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam và mang những giá trị đặc trưng phản ánh sự kết nối, giao lưu của cộng đồng cho nên di sản được phổ biến và biểu diễn ở nhiều nơi. Năm 2009, với những giá trị thể hiện đặc trưng văn hóa truyền thống của Việt Nam, UNESCO đã ghi danh di sản Quan họ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nghiên cứu của học giả Bountheng Souksavatd đã cung cấp nhiều dữ liệu cần thiết, giúp luận án bước đầu nhận diện về di sản Quan họ.
Bài viết “From inside the song to the stage: Quan họ practice in Vietnam today” [Từ bài hát ra đến sân khấu: sinh hoạt Quan họ ở Việt Nam hiện nay] của học giả Lauren Meeker (2008) [69, tr.421-438] đã thực hiện nghiên cứu so sánh giữa hình thức “Quan họ cổ” và “Quan họ mới”. Tác giả phân tích chi tiết về cách hát, lối hát, người hát, lời hát, không gian biểu diễn và tất cả tạo ra điểm đặc sắc, tính độc đáo và đa dạng cho Quan họ để thể hiện sự khác biệt với các loại hình di sản diễn xướng khác. Hiện nay, đối với cách hát Quan họ cũng xuất hiện một số kiểu khác nhau. Trong bài viết, tác giả tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về các loại hình Quan họ bằng cách phân tích sinh hoạt của cộng đồng người dân đang gìn giữ di sản.
Các hoạt động sinh hoạt được thực hiện khi thực hành Quan họ thể hiện một hình thức tình cảm đặc biệt biểu thị lối sống xưa 11 đang có nguy cơ biến mất. Khác với Quan họ cổ được nghệ nhân thực hành trong không gian nhỏ, Quan họ biểu diễn mang tính đại chúng và do nghệ sĩ biểu diễn trên nền nhạc được biến tấu từ dân ca, có sự giao lưu tương tác cùng khán giả. Do sự thay đổi của xã hội và giao thoa văn hóa giữa các vùng, miền mà di sản Quan họ cũng có những biến đổi. Tuy nhiên, di sản Quan họ vẫn được gìn giữ và thực hành thường xuyên, thể hiện nét đặc sắc của cộng đồng đang lưu giữ và truyền dạy loại hình di sản này.
Thông qua nghiên cứu của tác giả, luận án có thêm dữ liệu về sự phát triển và thay đổi của di sản Quan họ. Với sự thay đổi của lịch sử, di sản có sự biến đổi để phù hợp với xã hội, tuy nhiên các giá trị cốt lõi của di sản luôn được giữ gìn và trao truyền. Cuốn sách “Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù” của tác giả Nguyễn Xuân Diệu (2010) [7] trình bày nhiều vấn đề về lịch sử phát triển Ca trù và nghệ thuật Ca trù dựa trên nguồn tư liệu Hán Nôm có giá trị. Đây là một nghiên cứu chuyên khảo có giá trị để hình thành căn cứ nhận diện nghệ thuật Ca trù trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.
Cuốn sách cung cấp các đặc điểm và cách nhận biết Ca trù, lịch sử phát triển của Ca trù Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu toàn diện về nghệ thuật, lịch sử phát triển, không gian sinh hoạt và nghệ thuật thơ trong Ca trù thông qua nguồn tư liệu Hán Nôm, đồng thời cung cấp nhiều cứ liệu quan trọng trong việc phục hồi không gian văn hóa và phát triển nghệ thuật Ca trù. Ca trù được mệnh danh là bộ môn nghệ thuật bác học của nền âm nhạc cổ truyền, do vậy, những tư liệu trong cuốn sách của tác giả Nguyễn Xuân Diệu là nguồn tài liệu quý giá giúp luận án có thông tin và căn cứ để nhận diện di sản Ca trù. Cuốn sách “Di sản văn hóa dân tộc Việt Nam (Khái lược - Giới thiệu)” của tác giả Nguyễn Thị Phương (2016) [27] nghiên cứu tổng quát về di sản văn hóa của Việt Nam.
Thông qua nghiên cứu, tác giả đề cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc. Cuốn sách được chia làm hai phần chính là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Trong phần di sản văn hóa phi vật thể, các tài liệu liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể thế giới tại Việt Nam bao gồm các di sản được UNESCO ghi danh tính đến năm 2016 (gồm: 12 Âm nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc triều Nguyễn, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, hát Xoan Phú Thọ, nghệ thuật Đờn ca tài tử, dân ca Ví, Giặm Nghệ - Tĩnh) được sưu tầm và biên soạn. Đây là nguồn tài liệu được tổng hợp và mang giá trị tham khảo cho luận án khi tìm hiểu về di sản và giá trị của từng di sản, từ đó, luận án có cơ sở đề xuất các biện pháp hiệu quả để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh.
Cuốn sách “Nghệ thuật Xòe Thái” của các tác giả Bùi Quang Thanh và Nguyễn Thị Hiền (2019) [35] bằng tiếng Anh, Pháp và Việt tập trung vào nội dung khái quát tổng quan về văn hóa dân tộc Thái; xem xét quá trình ra đời, tồn tại, cách thức thực hành diễn xướng Xòe Thái; giá trị và vai trò của nghệ thuật Xòe Thái trong đời sống cộng đồng cũng như vai trò của chính quyền địa phương và Nhà nước trong việc bảo vệ nghệ thuật Xòe Thái. Nghệ thuật Xòe Thái có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng người Thái. Xòe được cộng đồng xem như một nguồn lực văn hóa để kết nối các thành viên tạo thành sức mạnh tập thể. Nghệ thuật Xòe là một phần trong nghệ thuật múa dân gian của Việt Nam, thể hiện sức sáng tạo đa dạng của cộng đồng dân tộc người Thái.
Nhiều thế hệ người Thái đã và đang tiếp tục thực hành nghệ thuật Xòe để gìn giữ bản sắc đặc trưng của cộng đồng. Đây là một nghiên cứu khát quát, cung cấp các tư liệu để luận án có cơ sở nhận diện về di sản Xòe Thái của cộng đồng các dân tộc ở Tây Bắc. Cuốn sách “Hát Xoan Phú Thọ - Dân Ca Cội Nguồn” của tác giả Dương Huy Thiện (2020) [36] nghiên cứu nhận diện hát Xoan là di sản văn hoá phi vật thể độc đáo của tỉnh Phú Thọ, đất tổ vua Hùng. Hát Xoan là hình thức dân ca nghi lễ, tiếng hát cửa đình thể hiện những lễ tục diễn xướng tế thần linh và đậm chất trữ tình.
Trong quá khứ, hát Xoan được dân làng tổ chức thường niên vào mùa xuân. Hát Xoan là một thể loại âm nhạc tín ngưỡng và thể hiện niềm tin của người dân sinh sống ở Phú Thọ - cái nôi của nền văn hóa Việt Nam. Dựa trên những tư liệu về hát Xoan trong nghiên cứu của tác giả Dương Huy Thiện thấy rằng hát Xoan là di sản truyền thống phản ánh cuộc sống và sinh hoạt của 13 cộng đồng người dân ở Phú Thọ, đây là nguồn tài liệu hỗ trợ luận án tìm hiểu về hát Xoan và giá trị của di sản hát Xoan đối với cộng đồng chủ thể. Các công trình nghiên cứu liên quan đến hình thức tập quán xã hội và tín ngưỡng Cuốn sách “Cult, Culture, and Authority: Princess Lieu Hanh in Vietnamese History” [Tục thờ, Văn hóa và Chính quyền: Công chúa Liễu Hạnh trong lịch sử Việt Nam] của tác giả Olga Dror (2006) [62] phân tích những yếu tố điển hình về một loại hình tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam mang nhiều dấu ấn lịch sử.
Cuốn sách tập trung nghiên cứu về đời sống, tôn giáo và văn hóa ở Việt Nam thời cận đại và hiện đại.