Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình (mã ngành: 9580106) của tác giả Lương Vũ Đàm Ninh, thực hiện tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Thị Kim Dung và PGS. Nguyễn Tuấn Anh (năm 2026), nghiên cứu về đề tài: "Quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh".

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn toàn cầu hóa, đô thị hóa và sự gia tăng cạnh tranh giữa các điểm đến. Di sản kiến trúc (DSKT) không còn tồn tại như các đối tượng bảo tồn đơn lẻ mà là bộ phận cấu thành của không gian đô thị, tài nguyên du lịch và bản sắc địa phương. Tại các khu vực có tốc độ phát triển du lịch cao như tỉnh Quảng Ninh, DSKT chịu áp lực đồng thời từ việc mở rộng không gian xây dựng, gia tăng hạ tầng dịch vụ, khai thác kinh tế, biến đổi khí hậu và sự thay đổi thể chế quản lý. Hệ thống di sản của Quảng Ninh rất phong phú với 88 điểm du lịch đã được công nhận (tính đến cuối năm 2024), 636 di tích/cụm di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh (gồm 8 di tích quốc gia đặc biệt, 56 di tích cấp quốc gia, 101 di tích cấp tỉnh và 471 di tích kiểm kê, phân loại). Đến hết năm 2025, tỉnh đón 21,28 triệu lượt khách (trong đó có 4,5 triệu khách quốc tế), tổng thu du lịch ước đạt 57.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, công tác quản lý DSKT tại các điểm du lịch còn bộc lộ nhiều khoảng trống: sự chênh lệch hiệu quả quản lý giữa các nhóm điểm, công trình xuống cấp, can thiệp bổ sung hạng mục thiếu chuẩn mực, hoạt động xây dựng trong vùng bảo vệ và vùng phụ cận chưa được kiểm soát đồng bộ, thiếu vắng các công cụ quản lý không gian (tầng cao, mật độ, sức chứa du lịch), cơ chế phối hợp liên ngành chưa hoàn thiện và thiếu các nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ quản lý đô thị.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất mô hình và hệ thống giải pháp quản lý DSKT tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh nhằm bảo tồn di sản và phát triển du lịch.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Đề xuất mô hình quản lý DSKT tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh;
  2. Đề xuất các giải pháp quản lý DSKT tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh;
  3. Đề xuất bổ sung công cụ quản lý: xây dựng bộ chỉ số đánh giá và cơ chế giám sát hiệu quả hoạt động quản lý DSKT tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý DSKT tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh, bao gồm thể chế, tổ chức bộ máy, công cụ quản lý, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể; hoạt động bảo tồn, tu bổ, phục hồi và xây dựng liên quan; quản lý không gian kiến trúc - cảnh quan; tổ chức khai thác, phát huy giá trị di sản phục vụ du lịch và các yếu tố ảnh hưởng.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, khảo sát trực tiếp tại 47 điểm du lịch gắn với DSKT đã được lựa chọn.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng giai đoạn 2015-2026; các đề xuất giải pháp và mô hình hướng đến giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả đã hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận chính:

  • Hướng nghiên cứu về quản lý di sản và bảo tồn di sản: Điểm lại các quan điểm quốc tế từ Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới năm 1972 của UNESCO, các khuyến nghị của ICOMOS, IUCN và cách tiếp cận Cảnh quan đô thị lịch sử (HUL, UNESCO 2011). Tại Việt Nam, hướng này gắn với việc phân tích hệ thống Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi 2009) cùng các quy định pháp luật liên quan đến bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.
  • Hướng nghiên cứu về quản lý điểm du lịch: Khái quát các lý thuyết quản lý điểm đến, sức chứa du lịch, tính mùa vụ của hoạt động du lịch và tác động của dòng khách đến tính toàn vẹn của các giá trị tài nguyên.
  • Hướng nghiên cứu về quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch: Phân tích các mô hình bảo tồn thích ứng, kinh tế di sản (xem di sản như một dạng vốn văn hóa theo cách tiếp cận của Throsby) và lý thuyết quản trị có sự tham gia của cộng đồng dựa trên thang bậc tham gia của Sherry Arnstein.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Phần lớn các nghiên cứu trước đây thường tách rời giữa bảo tồn di sản thuần túy (dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử) và khai thác dịch vụ du lịch (dưới góc nhìn kinh tế điểm đến). Chưa có nghiên cứu nào tiếp cận quản lý DSKT tại các điểm du lịch của một địa bàn có cấu trúc không gian phức hợp như tỉnh Quảng Ninh dưới góc độ quản lý đô thị và công trình. Đồng thời, còn thiếu cơ sở khoa học để phân nhóm các điểm du lịch có DSKT nhằm xác lập mô hình quản trị phù hợp cho từng nhóm, cũng như thiếu một bộ chỉ số định lượng kèm cơ chế giám sát thực thi để đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung tiếp cận tích hợp giữa bảo tồn di sản, quản lý kiến trúc cảnh quan và khai thác du lịch bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích quản lý đô thị:

  • Các khái niệm nền tảng: Di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể theo UNESCO 1972 và Luật Di sản văn hóa Việt Nam); Di sản kiến trúc (các công trình, quần thể công trình có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kỹ thuật); Di sản đô thị và Cảnh quan đô thị lịch sử (UNESCO 2011); Cảnh quan văn hóa; Điểm du lịch có di sản kiến trúc.
  • Lý thuyết quản trị và kinh tế: Lý thuyết quản lý đô thị và quản trị đô thị (nhấn mạnh sự tham gia, tính minh bạch và điều phối đa chủ thể); Lý thuyết kinh tế di sản (vốn văn hóa, khai thác đi đôi với tái đầu tư bảo tồn); Lý thuyết quản trị đa cấp, đa bên và tám nấc thang tham gia của cộng đồng (Arnstein); Lý thuyết quản lý dựa trên kết quả và đánh giá hiệu quả.
  • Cơ sở pháp lý: Hệ thống luật pháp Việt Nam (Luật Di sản văn hóa, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch, Luật Du lịch...), các văn bản quy phạm dưới luật, các nghị quyết, quy hoạch của tỉnh Quảng Ninh (tiêu biểu như Quyết định số 4166/QĐ-UBND ngày 01/11/2025 về việc thành lập BQL Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử) và các văn kiện quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm sự kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp: Thu thập, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ di tích, số liệu thống kê du lịch, quy hoạch không gian để xác lập khung cơ sở lý thuyết.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa và điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát thực địa toàn diện tại 47 điểm du lịch có DSKT tại Quảng Ninh. Thực hiện điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi với quy mô mẫu 100 phiếu, phân bổ cho hai nhóm đối tượng: cộng đồng địa phương và khách du lịch; sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá vai trò của DSKT và mức độ hài lòng về không gian, dịch vụ. Thực hiện phỏng vấn sâu và tham vấn chuyên môn đối với 30 chuyên gia, cán bộ quản lý thuộc các sở, ngành, UBND cấp xã và ban quản lý di tích.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình và so sánh: Nghiên cứu sâu trường hợp Khu trung tâm di tích lịch sử Bạch Đằng; so sánh đối chiếu kinh nghiệm quốc tế (như mô hình quản lý và phân vùng môi trường quần thể Angkor, Campuchia) và các mô hình quản lý di tích trong nước.
  • Phương pháp ứng dụng công cụ khoa học - kỹ thuật: Định hướng ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Web-GIS, mô hình thông tin công trình cho di sản (HBIM), xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số và bộ chỉ số theo dõi, giám sát.
  • Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý thông qua các hội thảo mở rộng và hội đồng bộ môn.

Nguồn tư liệu, dữ liệu của luận án được trích xuất từ các báo cáo chính thức của UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Quốc gia, cùng hệ thống dữ liệu khảo sát thực tế do tác giả trực tiếp thực hiện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh

Chương 1 tập trung nhận diện, khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống DSKT và mô hình quản lý tại 47 điểm du lịch của tỉnh Quảng Ninh.

Về phân nhóm 47 điểm du lịch có DSKT, tác giả xây dựng 5 nhóm tiêu chí (đánh giá theo thang 3 mức: Mức 1 - thấp/đơn giản, Mức 2 - trung gian, Mức 3 - nổi trội/quy mô lớn/phức tạp):

  1. Giá trị và loại hình DSKT;
  2. Quy mô và cấu trúc không gian;
  3. Cường độ và đặc điểm khai thác du lịch;
  4. Cấu trúc chủ thể tham gia quản lý;
  5. Điều kiện quản trị tại điểm.

Kết quả phân nhóm 47 điểm khảo sát thành 5 nhóm điểm chính:

  • Nhóm 1: Điểm di sản trọng điểm (4 điểm): Quy mô lớn, nhiều hợp phần, giá trị nổi bật, áp lực khách cao (tiêu biểu: Yên Tử, Bạch Đằng, Đông Triều).
  • Nhóm 2: Điểm tâm linh - lễ hội (22 điểm): Hoạt động tín ngưỡng theo mùa vụ, có sự tham gia của cơ sở thờ tự và dòng họ (tiêu biểu: Đền Cửa Ông, Đền Thượng, Đền thờ Đức Ông núi Bài Thơ, Miếu Ông - Miếu Bà).
  • Nhóm 3: Điểm cộng đồng, làng quê, vùng đệm di sản (10 điểm): DSKT gắn chặt với không gian cư trú, sinh kế và cảnh quan làng xã (tiêu biểu: Đình Phong Cốc, Chùa Yên Đông, Đình Hưng Học, Yên Đức, Quan Lạn).
  • Nhóm 4: Điểm đơn lẻ, quy mô vừa và nhỏ, phân tán (8 điểm): Sức hút du lịch chưa cao, nguồn thu hạn chế, quản lý kiêm nhiệm (tiêu biểu: Đền thờ Vua Lê Thái Tổ, Đền thờ Tiến sĩ Vũ Phi Hổ, Chùa Yên Mỹ).
  • Nhóm 5: Điểm đặc thù (3 điểm): Di tích lịch sử, tưởng niệm, giáo dục truyền thống do doanh nghiệp ngành, lực lượng chuyên ngành quản lý trực tiếp (tiêu biểu: Khu di tích Bác Hồ trên đảo Cô Tô, Cụm di tích cách mạng mỏ than Mạo Khê, Đồn Pò Hèn).

Về số lượng và loại hình: Khảo sát xác định có 120 DSKT nằm trong 47 điểm du lịch này. Cơ cấu phân loại theo cấp hạng gồm: 22% di tích Quốc gia đặc biệt, 37% di tích Cấp Quốc gia, 14% di tích Cấp Tỉnh và 27% di tích kiểm kê chưa xếp hạng. Các công trình được chia thành 4 loại hình kiến trúc: tôn giáo - tín ngưỡng; lịch sử - cách mạng, lưu niệm và tưởng niệm; dòng họ, cộng đồng, làng nghề, dân cư truyền thống; thương mại, công nghiệp và giao thương.

Kết quả điều tra 100 phiếu xã hội học ghi nhận đánh giá của cộng đồng và du khách về vai trò của DSKT đạt mức điểm cao:

Nội dung đánh giá Điểm trung bình (thang 5)
Di sản có vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch 4,24/5
Điểm này có giá trị lịch sử - văn hóa nổi bật 4,23/5
Di sản góp phần tạo bản sắc cho địa phương 4,17/5
Di sản có ý nghĩa đối với giáo dục và truyền thống 4,14/5
Không gian, kiến trúc, cảnh quan tại đây có sức hấp dẫn 4,02/5

Tuy nhiên, mức độ hài lòng về tổ chức không gian tham quan chỉ dừng ở mức trung bình khá: Biển chỉ dẫn, thông tin, thuyết minh đạt 3,36/5; Tổ chức không gian tham quan, đi lại đạt 3,48/5; Mức độ hài hòa giữa bảo tồn và hoạt động du lịch đạt 3,40/5; Chất lượng dịch vụ hỗ trợ đạt 3,45/5.

Về tổ chức bộ máy, thực trạng tại 47 điểm ghi nhận 07 dạng mô hình quản lý:

TT Mô hình quản lý hiện trạng Số điểm Tỷ lệ (%)
1 Ban quản lý chuyên trách cấp tỉnh 2 4,3
2 Ban quản lý chuyên trách trực thuộc UBND cấp xã, phường cho từng điểm 17 36,2
3 Ban quản lý cấp xã quản lý chung toàn bộ di tích trên địa bàn 15 31,9
4 UBND cấp xã, phường trực tiếp quản lý 4 8,5
5 Giao chủ thể sử dụng trực tiếp quản lý 3 6,4
6 Mô hình quản lý đặc thù 3 6,4
7 Mô hình đồng quản lý 3 6,4
Tổng 47 100,0

Từ 7 mô hình này, luận án khái quát thành 4 xu hướng tổ chức: Quản lý nhà nước tập trung/BQL chuyên trách; Quản lý theo địa bàn hành chính cấp cơ sở; Giao chủ thể sử dụng hoặc vận hành trực tiếp; Đồng quản lý/phối hợp đa chủ thể.

Khảo sát 30 cán bộ và chuyên gia chỉ ra các hạn chế lớn: 70,0% ý kiến nhận định thiếu quy chế phối hợp cụ thể giữa các chủ thể; 60,0% đánh giá chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng; 50,0% cho rằng đầu mối quản lý chưa rõ hoặc trách nhiệm chồng chéo; 43,3% đánh giá sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế. Phạm vi quản lý không gian chủ yếu dừng lại trong khuôn viên di tích, chưa kiểm soát được vùng phụ cận và cảnh quan liên quan.

Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh

Chương 2 thiết lập khung lý luận và căn cứ khoa học cho việc đổi mới phương thức quản lý:

  • Hệ thống hóa các căn cứ pháp lý: Luật Di sản văn hóa, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch, Luật Du lịch, các văn bản dưới luật, chính sách đặc thù của tỉnh Quảng Ninh và các khuyến nghị quốc tế của UNESCO, ICOMOS.
  • Xác lập 5 nền tảng lý luận:
    1. Bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch bền vững;
    2. Quản trị đa cấp, đa bên và có sự tham gia;
    3. Quản lý di sản dựa vào cộng đồng;
    4. Kinh tế di sản và cơ chế tạo lập nguồn lực tái đầu tư bảo tồn;
    5. Quản lý dựa trên kết quả và đánh giá hiệu quả hoạt động.
  • Phân tích 5 nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý: Thể chế - chính sách; Điều kiện tự nhiên - không gian; Đô thị hóa, quy hoạch và phát triển du lịch; Tiến bộ khoa học công nghệ và chuyển đổi số; Các bên liên quan và nguồn lực quản lý.
  • Xây dựng nguyên tắc và khung đánh giá hiệu quả quản lý gồm 6 nhóm tiêu chí:
    1. Bảo tồn tính nguyên gốc và tính toàn vẹn của DSKT;
    2. Quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan và vùng bảo vệ;
    3. Hiệu quả khai thác du lịch và chất lượng dịch vụ;
    4. Năng lực bộ máy, sự tham gia của các bên liên quan và mức độ chia sẻ lợi ích;
    5. Nguồn lực tài chính và tính bền vững kinh tế;
    6. Mức độ ứng dụng công nghệ và dữ liệu số trong quản lý.
  • Tổng kết bài học kinh nghiệm: Nghiên cứu mô hình phân vùng và quản lý môi trường tại Quần thể di tích Angkor (Campuchia) cùng các kinh nghiệm thực tiễn quản lý di sản trong nước để rút ra bài học về phân cấp, điều phối đa ngành và ứng dụng công nghệ giám sát.

Chương 3: Đề xuất mô hình và giải pháp quản lý di sản kiến trúc tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh

Trên cơ sở lý luận và thực trạng, Chương 3 đưa ra các đề xuất cụ thể:

Đề xuất 4 mô hình quản lý theo từng nhóm điểm du lịch:

  1. Mô hình quản lý kiêm nhiệm có chuẩn hóa: Áp dụng cho Nhóm điểm đơn lẻ, quy mô vừa và nhỏ, phân tán. Chuẩn hóa quy trình vận hành, nâng cao năng lực cho BQL cấp xã/công chức kiêm nhiệm, ban hành sổ tay hướng dẫn bảo trì và quy chuẩn hóa việc giám sát kỹ thuật.
  2. Mô hình phối hợp đa bên: Áp dụng cho Nhóm điểm di sản trọng điểm, quy mô lớn. Thiết lập đầu mối điều phối liên ngành (văn hóa, du lịch, xây dựng, môi trường, chính quyền địa phương), phân định rõ thẩm quyền và cơ chế ra quyết định chung đối với không gian vùng lõi và vùng đệm.
  3. Mô hình đồng quản lý cộng đồng: Áp dụng cho Nhóm điểm cộng đồng, làng quê, vùng đệm di sản. Phát huy vai trò chủ thể của người dân địa phương trong việc bảo vệ công trình, kiểm soát không gian làng nghề, cung cấp dịch vụ du lịch và hưởng lợi từ nguồn thu di sản.
  4. Mô hình hợp tác ba bên: Áp dụng cho Nhóm điểm tâm linh - lễ hội (Nhà nước - Cơ sở tôn giáo/Người đại diện di tích - Cộng đồng/Doanh nghiệp) và biến thể áp dụng cho Nhóm di tích đặc thù. Phân định rõ quyền sở hữu, quyền quản lý tín ngưỡng, trách nhiệm tu bổ và quản lý nguồn thu công đức, dịch vụ.

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý và cơ chế giám sát: Thiết lập bộ chỉ số tương ứng với 6 nhóm tiêu chí, định hình quy trình thu thập dữ liệu định kỳ, xây dựng cơ chế phản hồi, báo cáo và điều chỉnh mô hình quản lý theo từng giai đoạn.

Hệ thống 9 nhóm giải pháp triển khai đồng bộ:

  1. Giải pháp về cơ chế, chính sách và phân cấp quản lý;
  2. Giải pháp về tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp liên ngành;
  3. Giải pháp về bảo tồn, tu bổ, phát huy giá trị và quản lý kiến trúc cảnh quan (kiểm soát mật độ, tầng cao, hình thái kiến trúc vùng phụ cận);
  4. Giải pháp quản lý hoạt động du lịch và kiểm soát sức chứa;
  5. Giải pháp về cơ chế tài chính, huy động vốn và quy định tỷ lệ tái đầu tư từ nguồn thu di sản;
  6. Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương và doanh nghiệp;
  7. Giải pháp về cơ sở dữ liệu số và chuyển đổi số (khung chuyển đổi số tích hợp GIS, Web-GIS, HBIM);
  8. Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân lực quản lý;
  9. Giải pháp giám sát, đánh giá định kỳ và quản trị rủi ro.

Áp dụng thử nghiệm mô hình tại Khu trung tâm di tích lịch sử Bạch Đằng: Luận án tiến hành lựa chọn Khu trung tâm di tích lịch sử Bạch Đằng (thuộc nhóm điểm di sản trọng điểm) làm trường hợp thử nghiệm. Luận án phân tích đặc điểm hệ thống DSKT (Đền Trần Hưng Đạo, Miếu Vua Bà, Bến đò Rừng, Đền Trung Cốc, Đình Yên Giang, Đình Trung Bản, Đình Đền Công cùng hệ thống bãi cọc), cơ cấu tổ chức bộ máy theo mô hình phối hợp đa bên, áp dụng khung chỉ số đánh giá ưu tiên và kiểm chứng tính khả thi, mức độ phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn của luận án được xác định rõ:

  • Về mặt lý luận: Làm rõ cách tiếp cận quản lý DSKT tại các điểm du lịch dưới góc độ quản lý đô thị và công trình. Nghiên cứu đã chuyển đổi phương thức tiếp cận từ quản lý một công trình/di tích đơn lẻ sang quản lý tích hợp hệ thống không gian kiến trúc cảnh quan, vùng phụ cận, hạ tầng kỹ thuật và hoạt động du lịch dựa trên nguyên tắc quản trị đa chủ thể.
  • Về mặt phương pháp: Xây dựng thành công khung phân nhóm 47 điểm du lịch có DSKT tỉnh Quảng Ninh dựa trên tổ hợp 5 nhóm tiêu chí (loại hình, không gian, cường độ du lịch, chủ thể, điều kiện quản trị), tạo cơ sở khoa học để phân loại và định hình mô hình quản lý phù hợp cho từng nhóm.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Đề xuất cấu trúc 4 mô hình quản lý tương thích với 5 nhóm điểm du lịch có DSKT tại Quảng Ninh.
    • Đề xuất hệ sinh thái 9 nhóm giải pháp toàn diện, trong đó xác định rõ cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ tái đầu tư cho bảo tồn và khung chuyển đổi số ứng dụng GIS, Web-GIS và HBIM.
    • Xây dựng bộ công cụ quản lý mới gồm khung tiêu chí đánh giá, bộ chỉ số hiệu quả quản lý có cơ chế giám sát - phản hồi, đồng thời thử nghiệm thành công tại Khu trung tâm di tích lịch sử Bạch Đằng.

Kiến nghị, giải pháp đề xuất đối với các cơ quan quản lý:

  • Đối với UBND tỉnh Quảng Ninh: Ban hành quy chế phối hợp liên ngành trong quản lý DSKT tại điểm du lịch; quy định cụ thể tỷ lệ trích nộp và tái đầu tư từ nguồn thu du lịch cho hoạt động bảo tồn; phê duyệt đề án chuyển đổi số quản lý di sản.
  • Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chuẩn hóa hệ thống dữ liệu số kiểm kê di sản; hướng dẫn chuyên môn bảo tồn cho cấp xã; phối hợp kiểm soát hoạt động du lịch theo mùa vụ.
  • Đối với Sở Xây dựng và cơ quan quy hoạch: Tăng cường lập quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan cho vùng đệm và vùng phụ cận của các di tích; tích hợp ranh giới bảo vệ di sản vào quy hoạch đô thị chung của tỉnh.
  • Đối với chính quyền cấp cơ sở và các Ban quản lý: Kiện toàn bộ máy theo đúng mô hình đề xuất, áp dụng bộ chỉ số để tự đánh giá và nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản lý nguồn lực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát giới hạn trong 47 điểm du lịch gắn với DSKT đã được công nhận trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong khung thời gian 2015-2026.
  • Việc áp dụng thử nghiệm mô hình tổ chức và bộ chỉ số mới được thực hiện sâu tại một trường hợp nghiên cứu điển hình là Khu trung tâm di tích lịch sử Bạch Đằng, chưa đủ thời gian kiểm chứng vận hành đồng loạt tại cả 5 nhóm điểm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm 4 mô hình quản lý tại các nhóm điểm du lịch còn lại trên địa bàn tỉnh.
  • Tiếp tục theo dõi, thu thập dữ liệu chuỗi thời gian để kiểm chứng, chuẩn hóa ngưỡng định lượng cho các chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý theo các mốc mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
  • Hoàn thiện tích hợp nền tảng công nghệ số (Web-GIS và HBIM) vào hệ thống điều hành đô thị thông minh của tỉnh.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Xây dựng, UBND cấp huyện và xã): Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, sắp xếp lại bộ máy quản lý di tích, ban hành quy chế phối hợp liên ngành, phân cấp quản lý và thiết lập quy chế quản lý không gian kiến trúc cảnh quan vùng phụ cận.
  • Đối với các Ban quản lý di tích và điểm du lịch: Tham khảo 4 mô hình quản lý và bộ chỉ số đánh giá hiệu quả để tự rà soát, xây dựng quy chế vận hành nội bộ, chuẩn hóa quy trình bảo trì công trình và điều tiết lưu lượng khách.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình, Quy hoạch đô thị, Quản trị du lịch và Bảo tồn di sản: Tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận liên ngành, khung tiêu chí phân nhóm điểm đến di sản, phương pháp xây dựng bộ chỉ số đo lường hiệu quả quản trị và lộ trình chuyển đổi số trong quản lý di sản kiến trúc.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là phương pháp phân nhóm 47 điểm di sản, cấu trúc phân định trách nhiệm trong 4 mô hình quản lý và phương án áp dụng thử nghiệm tại Khu di tích Bạch Đằng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại 47 điểm du lịch có di sản kiến trúc tại Quảng Ninh thành những nhóm nào? Dựa trên 5 nhóm tiêu chí (giá trị - loại hình, quy mô không gian, cường độ du lịch, chủ thể quản lý, điều kiện quản trị), luận án phân loại thành 5 nhóm điểm:

  • Nhóm 1: Điểm di sản trọng điểm (4 điểm);
  • Nhóm 2: Điểm tâm linh - lễ hội (22 điểm);
  • Nhóm 3: Điểm cộng đồng, làng quê, vùng đệm di sản (10 điểm);
  • Nhóm 4: Điểm đơn lẻ, quy mô vừa và nhỏ, phân tán (8 điểm);
  • Nhóm 5: Điểm đặc thù (3 điểm).

2. Thực trạng mô hình quản lý tại 47 điểm khảo sát bộc lộ những hạn chế lớn nào? Khảo sát ghi nhận 07 dạng mô hình quản lý hiện hành, tập trung nhiều nhất ở dạng BQL trực thuộc UBND cấp xã cho từng điểm (36,2%) và BQL cấp xã quản lý chung nhiều di tích (31,9%). Kết quả tham vấn chuyên gia và cán bộ chỉ ra các bất cập: 70,0% ý kiến cho rằng thiếu quy chế phối hợp cụ thể; 60,0% nhận định chưa có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng; 50,0% phản ánh đầu mối quản lý chưa rõ hoặc trách nhiệm chồng chéo; 43,3% đánh giá sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế.

3. Bốn mô hình quản lý được luận án đề xuất áp dụng cho các đối tượng cụ thể nào? Tác giả đề xuất 4 mô hình tương ứng với các nhóm điểm:

  • Mô hình quản lý kiêm nhiệm có chuẩn hóa: Áp dụng cho nhóm điểm đơn lẻ, phân tán, quy mô nhỏ.
  • Mô hình phối hợp đa bên: Áp dụng cho nhóm điểm di sản trọng điểm, quy mô lớn.
  • Mô hình đồng quản lý cộng đồng: Áp dụng cho nhóm điểm cộng đồng, làng quê, vùng đệm di sản.
  • Mô hình hợp tác ba bên: Áp dụng cho nhóm điểm tâm linh - lễ hội và biến thể áp dụng cho nhóm di tích đặc thù.

4. Khung đánh giá hiệu quả quản lý do luận án xây dựng gồm những nhóm tiêu chí nào? Khung đánh giá gồm 6 nhóm tiêu chí: (1) Bảo tồn tính nguyên gốc và tính toàn vẹn của DSKT; (2) Quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan và vùng bảo vệ; (3) Hiệu quả khai thác du lịch và chất lượng dịch vụ; (4) Năng lực bộ máy, sự tham gia của các bên liên quan và mức độ chia sẻ lợi ích; (5) Nguồn lực tài chính và tính bền vững kinh tế; (6) Mức độ ứng dụng công nghệ và dữ liệu số trong quản lý.

5. Điểm di sản nào được lựa chọn để thử nghiệm mô hình và kết quả ra sao? Khu trung tâm di tích lịch sử Bạch Đằng (gồm Đền Trần Hưng Đạo, Miếu Vua Bà, Đền Trung Cốc, hệ thống đình và bãi cọc) được chọn để thử nghiệm mô hình phối hợp đa bên và áp dụng bộ chỉ số đánh giá ưu tiên. Kết quả kiểm chứng khẳng định mô hình có tính phù hợp với cấu trúc không gian phức hợp, có tính khả thi trong điều kiện thực tiễn địa phương và có khả năng nhân rộng cho các quần thể di sản trọng điểm khác.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Vũ Đàm Ninh đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý DSKT tại các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh từ góc độ quản lý đô thị và công trình. Bằng cách tiếp cận liên ngành và hệ thống dữ liệu thực chứng tại 47 điểm khảo sát, luận án đã phân loại thành công 5 nhóm điểm di sản, đề xuất 4 mô hình quản lý tương thích cùng hệ thống 9 nhóm giải pháp triển khai đồng bộ. Công trình đóng góp bộ công cụ quản lý mới gồm khung tiêu chí và bộ chỉ số theo dõi hiệu quả có cơ chế giám sát, góp phần cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc hoạch định chính sách, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững tại địa phương.