Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2000 - 2010, huyện đảo Vân Đồn được xác định là một trong bốn không gian phát triển du lịch trọng điểm của tỉnh. Nằm cách thành phố Hạ Long chưa đầy 50 km, Vân Đồn sở hữu nguồn tài nguyên du lịch sinh thái biển đảo phong phú cùng bề dày lịch sử thương cảng cổ. Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác tương xứng với thế mạnh vốn có; đời sống của cư dân địa phương—đặc biệt là các dân tộc thiểu số và người dân sinh sống tại các xã hải đảo—vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và nguy cơ tái nghèo còn cao.

Hoạt động du lịch tại địa phương trong giai đoạn này còn bộc lộ nhiều hạn chế về hệ thống hạ tầng kỹ thuật (điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế). Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào chuỗi dịch vụ du lịch mới dừng ở mức độ tự phát, lợi ích kinh tế thiếu ổn định và phụ thuộc nặng nề vào tính mùa vụ. Trong khi đó, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất canh tác nông nghiệp và diện tích mặt nước nuôi trồng thủy hải sản sang phục vụ phát triển hạ tầng du lịch đang tạo áp lực lớn lên vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bản địa. Việc nghiên cứu phát triển mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng gắn liền với mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững và bảo vệ tài nguyên môi trường là yêu cầu cấp thiết.

Khóa luận xác định mục đích tổng quát là xác lập các căn cứ khoa học nhằm phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở bảo đảm lợi ích của cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và bảo tồn bền vững tài nguyên tại huyện đảo Vân Đồn. Để đạt được mục đích này, đề tài thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử dụng tài nguyên tự nhiên phục vụ phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò và mức độ tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động du lịch sinh thái tại địa bàn.
  3. Đề xuất mô hình mẫu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại xã Quan Lạn, kết hợp các nhóm giải pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân và hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Tài nguyên du lịch sinh thái (tự nhiên và nhân văn) tại huyện Vân Đồn.
  • Các hoạt động du lịch sinh thái đang được triển khai trên địa bàn.
  • Cộng đồng dân cư sinh sống tại các điểm phát triển du lịch sinh thái.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Giới hạn tại các xã đảo thuộc huyện đảo Vân Đồn, trọng tâm là khu vực ven biển và các đảo Cái Bầu, Ngọc Vừng, Quan Lạn, Ba Mùn.
  • Thời gian: Khảo sát thực địa và thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành trong tháng 5 năm 2010; số liệu thứ cấp thống kê kinh tế - xã hội được tổng hợp trong giai đoạn 2005 - 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm chuẩn hóa về du lịch sinh thái (DLST) và du lịch dựa vào cộng đồng (DLCĐ):

  • Định nghĩa DLST theo Hội thảo quốc gia về xây dựng chiến lược DLST tại Việt Nam (tháng 9/1999): Loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
  • Định nghĩa DLCĐ theo Viện Nghiên cứu Phát triển Miền núi (Mountain Institute): Phương thức phát triển nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm đón khách vì sự phát triển bền vững dài hạn, khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương và thiết lập cơ chế chia sẻ cơ hội, lợi ích cho cộng đồng.
  • Bốn nguyên tắc cốt lõi của DLCĐ: (1) Cộng đồng được tham gia thảo luận quy hoạch, quản lý và đầu tư; (2) Phù hợp với năng lực và nhận thức của cộng đồng; (3) Chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng thông qua tái đầu tư hạ tầng, y tế, giáo dục; (4) Xác lập quyền sở hữu và tham dự của người dân đối với tài nguyên văn hóa, tự nhiên.
  • Bài học kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia - diện tích 40.000 ha với sự liên kết của 5 tổ chức gồm viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức bảo tồn và doanh nghiệp) và làng Ghandruk thuộc Khu bảo tồn quốc gia Annapurna (Nepal - dự án triển khai từ năm 1986 chú trọng đào tạo năng lực bản địa và tôn trọng tri thức truyền thống).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp thực hiện gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, kế thừa các công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học, báo cáo quy hoạch và số liệu thống kê của Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Trực tiếp điều tra hiện trạng tài nguyên tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật và các điểm du lịch trên tuyến đảo Cái Bầu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Minh Châu, Ba Mùn.
  • Phương pháp điều tra xã hội học:
    • Phỏng vấn sâu chuyên gia và cán bộ quản lý chuyên môn tại địa phương.
    • Điều tra bằng bảng hỏi đối với mẫu gồm $n_1 = 100$ người dân địa phương trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ du lịch tại các xã đảo Quan Lạn, Ngọc Vừng, Cái Bầu.
    • Điều tra bằng bảng hỏi đối với mẫu gồm $n_2 = 100$ du khách đang tham quan tại huyện Vân Đồn.
    • Phỏng vấn trực tiếp người lao động địa phương làm việc tại các khách sạn, khu nghỉ dưỡng trên địa bàn.

Nguồn dữ liệu: Số liệu đa dạng sinh học từ Vườn quốc gia Bái Tử Long (cập nhật đến tháng 01/2008 và Sách Đỏ Việt Nam 2007); số liệu thống kê kinh tế - xã hội huyện Vân Đồn các năm 2006, 2008, 2009; kết quả khảo sát bảng hỏi thực địa tháng 5/2010.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Chương này tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng:

  • Lịch sử hình thành: Khái quát mốc sự kiện Liên Hợp Quốc chọn năm 2002 là "Năm Quốc tế Du lịch sinh thái" và việc ban hành "Cẩm nang quản lý phát triển DLST ở các khu bảo tồn Việt Nam" năm 2004 do Cục Kiểm lâm phối hợp với tổ chức Fundeso và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Tây Ban Nha biên soạn.
  • Phân tích các thuật ngữ liên quan: Community-Based Tourism (CBT), Community-Development in Tourism, Community-Based Ecotourism, Community-Participation in Tourism, Community-Based Mountain Tourism.
  • Mối quan hệ tương hỗ giữa tài nguyên và cộng đồng: Sơ đồ hóa vòng tuần hoàn Tài nguyên (tự nhiên, văn hóa) $\rightarrow$ Hoạt động $\rightarrow$ Thu nhập $\rightarrow$ Khuyến khích bảo tồn. Phân tích đặc tính đan xen ghép giữa không gian kinh tế - xã hội của cư dân bản địa và không gian du lịch, dẫn đến tính phức tạp trong công tác quản lý tài nguyên môi trường.
  • Đúc kết bài học từ mô hình VQG Gunung Halimun (Indonesia) và làng Ghandruk (Nepal) về vai trò của tổ chức phi chính phủ (NGOs), việc phân cấp quản lý và cơ chế cam kết chia sẻ lợi ích công bằng.

Chương 2: Tiềm năng du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn, Quảng Ninh

Chương 2 trình bày chi tiết về tài nguyên du lịch và các điều kiện phát triển của địa bàn:

  • Khái quát địa lý: Huyện có diện tích tự nhiên 59.676 ha, gồm 2 quần đảo Cái Bầu (17.212 ha) và quần đảo Vân Hải với khoảng 600 hòn đảo lớn nhỏ (hơn 20 đảo có người ở). Tọa độ địa lý từ 20°40' đến 21°12' vĩ độ Bắc và từ 107°19' đến 107°42' kinh độ Đông. Địa hình Karst đá vôi xen kẽ đảo đất, nhiều bãi cát thạch anh có hàm lượng silic trên 90% (Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22 - 24°C, lượng mưa bình quân 2.245 mm/năm.
  • Đa dạng sinh học VQG Bái Tử Long: Thống kê 1.909 loài sinh vật (1.028 loài rừng, 881 loài biển; 102 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 gồm 72 loài động vật và 30 loài thực vật). Hệ thực vật rừng có 780 loài thuộc 468 chi, 135 họ; bao gồm 431 loài cây thuốc và 126 loài cây cho gỗ. Diện tích rừng ngập mặn ước tính 100 ha (lớn nhất tại vụng Cát Quýt trên đảo Ba Mùn với 24 ha). Quần xã rạn san hô ghi nhận 409 loài sinh vật liên kết.

Các thông số thành phần loài sinh vật được tổng hợp qua các bảng số liệu sau:

STT Lớp / Nhóm sinh vật Số loài Số họ Số bộ
1 Lớp thú 24 13 6
2 Lớp chim 71 28 9
3 Lớp lưỡng cư 15 1 1
4 Lớp bò sát 33 12 2
5 Côn trùng (bộ Cánh phấn/vảy) 120 8 0

Hệ động vật rừng Vườn quốc gia Bái Tử Long (Nguồn: Trích xuất từ Bảng 2.1 của khóa luận)

STT Nhóm thực vật phù du Số loài Số chi Số họ Số bộ Tỷ lệ (%)
1 Lớp tảo Silic 130 45 17 2 62,0
2 Lớp tảo Giáp 76 20 10 5 36,2
3 Lớp tảo Kim 2 1 1 1 0,9
4 Lớp tảo Lam 2 1 1 1 0,9
Tổng 210 67 29 9 100

Cơ cấu thực vật phù du Vườn quốc gia Bái Tử Long (Nguồn: Trích xuất từ Bảng 2.2 của khóa luận)

STT Nhóm động vật phù du Số loài Tỷ lệ (%)
1 Ngành chân đốt 76 76,0
2 Ngành thân mềm 3 3,0
3 Ngành hàm tơ 3 3,0
4 Ngành có bao 2 2,0
5 Ngành giun đất 1 1,0

Thành phần động vật phù du Vườn quốc gia Bái Tử Long (Nguồn: Trích xuất từ Bảng 2.3 của khóa luận)

STT Lớp động vật da gai Số loài Số họ Số bộ
1 Lớp Đuôi rắn 12 7 1
2 Lớp Hải sâm 8 4 3
3 Lớp Cầu gai 6 4 3
4 Lớp Huệ biển 3 1 1
5 Lớp Sao biển 3 2 1
Tổng 32 18 9

Cơ cấu động vật da gai Vườn quốc gia Bái Tử Long (Nguồn: Trích xuất từ Bảng 2.4 của khóa luận)

STT Họ cá biển chính Số loài Tỷ trọng (%)
1 Họ cá Thia 13 19,12
2 Họ cá Mú 9 13,24
3 Họ cá Bàng chài 6 8,82
4 Họ cá Sơn 5 7,35
5 Họ cá Phép 5 7,35
6 Họ cá Bướm 4 5,88
7 Họ cá Lượng 4 5,88
8 Họ cá Bống trắng 4 5,88

Thành phần các họ cá biển chiếm ưu thế tại VQG Bái Tử Long (Nguồn: Trích xuất từ Bảng 2.5 của khóa luận, tổng số 68 loài)

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu: Rừng trâm tự nhiên xã Minh Châu (diện tích 14 ha, chạy dài 4 - 5 km, tỷ lệ cây thuần chủng gần 90%), hang Soi Nhụ, hang Hà Giắt (bộ sưu tập Hayart gồm 70 hiện vật đồ đá cuội Granit), hang luồn Cái Đé (dài 300 - 400 m), bãi Dài (đảo Cái Bầu dài gần 2 km).
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Thương cảng cổ Vân Đồn hình thành từ thời Lý - Trần (năm 1149). Hệ thống bến thuyền cổ gồm bến Cống Đông (trên đảo Cống Đông dài hơn 10 km với 7 vụng biển), bến Cái Làng, bến Cống Cái, bến Con Quy, bến Cái Rồng, bến Cống Yên và Cống Hẹp. Các di tích kiến trúc gồm Đình Quan Lạn (cột làm bằng gỗ Mần Lái mọc trên núi đá đảo Ba Mùn, lưu giữ 18 sắc phong triều Nguyễn), Chùa Quan Lạn (Vân Quan tự), Chùa Lấm, Đồn canh Tĩnh Hải trên đảo Ngọc Vừng, ngọn tháp Đất Nung tại đảo Cống Tây.
  • Kinh tế - xã hội (năm 2009): Cơ cấu kinh tế gồm Công nghiệp - xây dựng chiếm 45,9%, Nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 33,5%, Thương mại - dịch vụ chiếm 20,6%. Sản lượng thủy sản khai thác đạt 11.650 tấn, giá trị đạt 256,3 tỷ đồng. Dân số tính đến 31/12/2006 là 41.130 người gồm 9 dân tộc (người Kinh chiếm 88,6%). Lực lượng lao động đạt 20.953 người (chiếm 50,3% dân số), tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 6,1%. GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 12,45 triệu đồng.
  • Đánh giá các rào cản và nguy cơ môi trường: Thiếu hụt nguồn nước ngọt sinh hoạt (phụ thuộc hồ Mắt Rồng, Dòng Linh, Cầu Lậu); toàn huyện chỉ có 3 điểm thu gom và xử lý rác thải tại xã Hạ Long, Đông Xá và Quan Lạn với công suất xử lý chưa đạt 50% nhu cầu; vùng đệm VQG Bái Tử Long có khoảng 1.600 người thiếu việc làm (chiếm 20% lực lượng lao động vùng đệm); tình trạng đánh bắt thủy hải sản bằng xung điện, chất nổ và nguy cơ rác thải y tế (kim tiêm) xuất hiện tại bãi biển Quan Lạn.

Chương 3: Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn, Quảng Ninh

Chương 3 phản ánh bức tranh hoạt động du lịch thực tế tại huyện đảo giai đoạn 2005 - 2009:

  • Các tuyến điểm và loại hình khai thác: Hoạt động du lịch tập trung vào tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh vịnh và di tích lịch sử tại cụm đảo Cái Bầu, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống cơ sở lưu trú tăng về số lượng nhưng quy mô nhỏ lẻ, trang thiết bị đơn giản; việc vận chuyển vật liệu xây dựng từ đất liền làm đội giá thành công trình; hệ thống công trình vệ sinh tại một số xã đảo còn thô sơ, chưa có bể tự hoại đạt chuẩn.
  • Thị trường khách du lịch: Khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo, chủ yếu đến từ Hà Nội, Hải Phòng, Cẩm Phả và các tỉnh phía Bắc vào dịp cuối tuần mùa hè; khách quốc tế chiếm tỷ lệ nhỏ, nguồn khách Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái còn phân tán.
  • Sự tham gia của cộng đồng: Cư dân chủ yếu tham gia vào các khâu lao động phổ thông, vận chuyển khách bằng xe tuk-tuk, bè mảng, bán hàng ăn uống nhỏ lẻ hoặc làm thuê thời vụ trong các nhà nghỉ, khu nghỉ dưỡng; chưa có sự tham gia vào quy hoạch hay quản lý dịch vụ ở cấp độ tổ chức cộng đồng.
  • Tác động của du lịch: Mang lại nguồn thu bổ sung trong các tháng cao điểm nhưng tạo áp lực cục bộ lên môi trường bãi biển, nguồn nước ngọt và làm phát sinh xung đột trong việc sử dụng quỹ đất ven biển giữa cộng đồng với các dự án xây dựng hạ tầng.

Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vân Đồn, Quảng Ninh

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp và mô hình thực thi cụ thể:

  • Nhóm giải pháp phát triển:
    1. Đào tạo nguồn nhân lực: Tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên bản địa, kỹ năng chế biến ẩm thực, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ cơ bản cho người dân.
    2. Thu hút sự tham gia của cộng đồng: Thành lập các tổ chức hợp tác, tổ dịch vụ du lịch cộng đồng tại thôn xóm nhằm bảo đảm chia sẻ doanh thu công bằng.
    3. Cải thiện môi trường sống: Đầu tư hệ thống lọc và cấp nước ngọt sinh hoạt, xây dựng các trạm xử lý chất thải rắn đạt chuẩn tại các xã đảo Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng; vận động nhân dân xóa bỏ hố xí thô sơ.
    4. Xây dựng chính sách phát triển: Hỗ trợ các gói vay vốn ưu đãi cho hộ dân cải tạo nhà ở đón khách du lịch, xây dựng quy chế quản lý sức chứa du khách tại các điểm nhạy cảm sinh thái.
    5. Tăng cường xúc tiến quảng bá: Tuyên truyền về các giá trị văn hóa biển đảo, lễ hội truyền thống đình Quan Lạn và hệ sinh thái VQG Bái Tử Long.
  • Đề xuất mô hình mẫu tại xã Quan Lạn: Thiết lập mô hình quản lý ba bên gồm Ban quản lý du lịch cộng đồng cấp xã (UBND xã, đại diện thôn bản, đại diện VQG Bái Tử Long), các nhóm hộ cung ứng dịch vụ (lưu trú homestay, ẩm thực thủy sản, tàu thuyền vận chuyển) và các công ty lữ hành liên kết.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu văn bản:

  • Tổng hợp toàn diện nguồn cơ sở dữ liệu về tài nguyên sinh thái của Vườn quốc gia Bái Tử Long với 1.909 loài sinh vật, chỉ rõ vị trí phân bố của 100 ha rừng ngập mặn và 409 loài thuộc hệ sinh thái rạn san hô ven đảo.
  • Thống kê chi tiết hệ thống di sản vật thể gắn liền với thương cảng cổ Vân Đồn gồm 6 cụm bến thuyền cổ, các di chỉ đồ đá Soi Nhụ, Hà Giắt, Ngọc Vừng và các công trình kiến trúc thời Lê - Nguyễn.
  • Đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội địa phương thông qua các chỉ số: GDP bình quân 12,45 triệu đồng/người (năm 2009), 97% dân số trong độ tuổi lao động có việc làm nhưng lao động qua đào tạo chỉ chiếm 6,1%.
  • Nhận diện các điểm nghẽn hạ tầng gồm: 100% rác thải tại 9/12 xã chưa được thu gom tập trung; công suất xử lý rác tại 3 trạm hiện hữu chỉ đáp ứng dưới 50%; khoảng 1.600 lao động tại vùng đệm VQG thiếu việc làm ổn định.
  • Đề xuất mô hình mẫu tổ chức du lịch cộng đồng tại xã Quan Lạn với cơ chế quản trị và phân chia lợi ích cụ thể cho người dân địa phương.

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Về mặt lý luận: Cụ thể hóa khung lý thuyết du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng vào bối cảnh một huyện đảo đặc thù kết hợp cả địa hình đồi núi, rừng đặc dụng quốc gia và biển đảo.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp tài liệu đánh giá hiện trạng có giá trị cho chính quyền địa phương huyện Vân Đồn và Khoa Văn hóa - Du lịch trong việc hoạch định các chương trình phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực địa ngắn hạn trong tháng 5 năm 2010 với cỡ mẫu $n = 200$ (100 người dân và 100 du khách), tập trung chủ yếu tại 3 xã Cái Bầu, Quan Lạn, Ngọc Vừng nên chưa bao quát toàn bộ 12 xã, thị trấn của huyện.
  • Nguồn số liệu thứ cấp về đa dạng sinh học và kinh tế - xã hội dừng lại ở mốc thống kê năm 2008 - 2009.
  • Mô hình mẫu du lịch cộng đồng mới dừng lại ở mức độ đề xuất khung tổ chức cho xã Quan Lạn, chưa có điều kiện thử nghiệm vận hành thực tế để đo lường các chỉ số tác động kinh tế - môi trường cụ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài:

  • Mở rộng điều tra tính toán sức chứa du lịch (carrying capacity) cho từng hệ sinh thái nhạy cảm tại Vườn quốc gia Bái Tử Long và các bãi biển cát trắng trên tuyến đảo Vân Hải.
  • Xây dựng đề án thử nghiệm chi tiết về cơ chế tài chính chia sẻ lợi nhuận giữa VQG Bái Tử Long, doanh nghiệp lữ hành và các tổ hợp tác du lịch cộng đồng tại xã Minh Châu, Bản Sen.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Văn hóa học, Địa lý Du lịch và Quản lý Tài nguyên Môi trường khi tìm kiếm tài liệu tham khảo về phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch biển đảo.
  • Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch tại huyện Vân Đồn, Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long và các tổ chức phát triển cộng đồng đang xây dựng dự án sinh kế gắn với bảo tồn biển.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất:

  • Toàn bộ tư liệu thống kê về đa dạng sinh học và hệ thống phân loại loài tại VQG Bái Tử Long trong Chương 2.
  • Tư liệu khảo cứu lịch sử - văn hóa về hệ thống bến thuyền thương cảng cổ Vân Đồn và kiến trúc chạm khắc đình Quan Lạn.
  • Thiết kế phiếu điều tra xã hội học và khung phân tích tiềm năng - rào cản phát triển du lịch sinh thái tại vùng hải đảo.

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng loài động thực vật quý hiếm được ghi nhận tại Vườn quốc gia Bái Tử Long trong khóa luận là bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê đến tháng 01/2008 được tác giả trích dẫn từ tài liệu của VQG Bái Tử Long, toàn khu vực Vịnh Bái Tử Long có 1.909 loài động thực vật. Riêng VQG Bái Tử Long ghi nhận 102 loài sinh vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (năm 2007), bao gồm 72 loài động vật và 30 loài thực vật.

2. Hệ thống bến thuyền cổ của thương cảng Vân Đồn gồm những địa điểm cụ thể nào?

Khóa luận thống kê hệ thống thương cảng cổ Vân Đồn thời Lý - Trần - Lê gồm 6 cụm bến thuyền chính:

  • Bến Cống Đông (trên đảo Cống Đông, xã Thắng Lợi, dài hơn 10 km với 7 vụng biển).
  • Bến Cái Làng (thuộc địa phận xã Quan Lạn, dải bờ vụng dài 200 m).
  • Bến Cống Cái (bờ Tây đảo Vân Hải, thuộc xã Quan Lạn, dải bến dài hơn 100 m).
  • Bến Con Quy (thuộc xã Minh Châu).
  • Bến Cái Rồng (gồm hai vụng Cổng Ông và Cổng Bà thuộc đảo Trà Bản).
  • Bến Cống Yên và Cống Hẹp (nằm ở phía Tây đảo Ngọc Vừng).

3. Quy mô khảo sát xã hội học của đề tài được thực hiện với bao nhiêu đối tượng?

Tác giả đã triển khai điều tra bảng hỏi với tổng cộng 200 mẫu khảo sát trong tháng 5/2010, bao gồm: 100 người dân địa phương tham gia làm du lịch tại các xã đảo Quan Lạn, Ngọc Vừng, Cái Bầu và 100 khách du lịch đến tham quan Vân Đồn; kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia địa phương và người lao động tại các khách sạn, khu nghỉ dưỡng.

4. Đình Quan Lạn có điểm gì đặc sắc về vật liệu xây dựng và di vật lưu giữ?

Toàn bộ hệ thống cột gỗ của Đình Quan Lạn được làm bằng gỗ Mần Lái—loại gỗ cứng chắc khai thác từ núi đá trên đảo Ba Mùn. Đình thờ Thành Hoàng làng, các vị Tiên Công và Thành hoàng Trần Khánh Dư. Tại di tích hiện còn lưu giữ tượng Trần Khánh Dư, 18 sắc phong của triều Nguyễn, long ngai, khám thờ, cửa võng, hoành phi và câu đối.

5. Những điểm nghẽn hạ tầng và môi trường lớn nhất tại Vân Đồn được nghiên cứu chỉ ra là gì?

Khóa luận chỉ rõ 4 điểm nghẽn chính: (1) Tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt trong mùa khô; (2) Toàn huyện chỉ có 3 điểm xử lý rác thải tại xã Hạ Long, Đông Xá, Quan Lạn với công suất xử lý chưa đạt 50% thực tế; (3) Tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật thấp, chỉ đạt 6,1%; (4) Tình trạng ô nhiễm cục bộ do rác sinh hoạt tại bãi đỗ xe/chợ Cái Rồng và rác thải kim tiêm tại bãi tắm Quan Lạn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Thị Hà đã phân tích hệ thống tiềm năng tài nguyên tự nhiên và nhân văn của huyện đảo Vân Đồn, đặc biệt là giá trị đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Bái Tử Long và quần thể di tích thương cảng cổ. Nghiên cứu chỉ ra bức tranh thực trạng hoạt động du lịch giai đoạn 2005 - 2009 với sự tham gia còn mang tính tự phát, bấp bênh của cộng đồng cùng những thách thức lớn về cơ sở hạ tầng, xử lý chất thải và thiếu hụt nước ngọt. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và mô hình mẫu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại xã Quan Lạn nhằm hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững.