Tổng quan nghiên cứu

Du lịch văn hóa đang khẳng định vị thế là động lực kinh tế mũi nhọn tại nhiều quốc gia đang phát triển nhờ khai thác hiệu quả các giá trị bản sắc dân tộc độc đáo. Tại Việt Nam, tỉnh Bình Định sở hữu kho tàng tài nguyên văn hóa vô cùng phong phú với 231 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 33 di tích cấp quốc gia và 50 di tích cấp tỉnh, tiêu biểu là hệ thống 8 cụm gồm 14 tháp Chăm cổ kính cùng dấu ấn hào hùng của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Mặc dù giai đoạn 2005 – 2009 ghi nhận lượng khách du lịch đến tỉnh tăng trưởng bình quân 22,1%/năm (đạt 776.000 lượt vào năm 2009) và doanh thu tăng trưởng bình quân 24,0%/năm (đạt 214 tỷ đồng), ngành du lịch địa phương vẫn đối mặt với bài toán nan giải về sản phẩm du lịch đơn điệu và cơ sở hạ tầng thiếu tính đồng bộ. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn giữa tiềm năng di sản đồ sộ và hiệu quả khai thác kinh tế du lịch còn khiêm tốn. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện thực trạng tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực và thị trường khách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch văn hóa gắn với công tác bảo tồn di sản. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm 4 địa bàn trọng điểm: thành phố Quy Nhơn, huyện Tuy Phước, huyện Tây Sơn và thị xã An Nhơn; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp từ năm 2005 đến năm 2009 cùng các định hướng quy hoạch phát triển đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch lên khoảng 10,6% GDP toàn tỉnh và gia tăng thời gian lưu trú bình quân vượt mức 1,85 ngày của du khách.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và mô hình quản trị điểm đến du lịch của tác giả Giuseppe Marzano (nhấn mạnh mối quan hệ hợp tác và định vị thương hiệu điểm đến). Khung phân tích vận dụng 5 khái niệm cốt lõi: Du lịch văn hóa (loại hình du lịch khai thác bản sắc văn hóa và di sản với sự tham gia của cộng đồng theo Luật Du lịch), Tài nguyên du lịch văn hóa (các yếu tố vật thể và phi vật thể có sức hấp dẫn tạo ra giá trị kinh tế - xã hội), Điểm đến du lịch (không gian địa lý thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm của du khách), Khách du lịch (phân định giữa khách nội địa và khách quốc tế), và Bảo tồn di sản văn hóa (các hoạt động nghiên cứu, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích theo Luật Di sản văn hóa). Hệ thống lý thuyết tiếp cận quản trị 5 chức năng của Fayol gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát, kết hợp cấu trúc tài nguyên văn hóa vật thể (14 tháp Chăm, Bảo tàng Quang Trung, thành Hoàng Đế) và phi vật thể (99 lễ hội truyền thống, võ cổ truyền Bình Định, nghệ thuật Hát Bội, Bài Chòi).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định giai đoạn 2005 – 2009 cùng dữ liệu sơ cấp qua khảo sát thực địa. Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 350 du khách (bao gồm 250 khách nội địa và 100 khách quốc tế) và 50 cán bộ quản lý, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng tại các điểm đến tiêu biểu (Bảo tàng Quang Trung, tháp Bánh Ít, Chùa Thập Tháp, làng nón ngựa Phú Gia) nhằm đảm bảo tính đại diện cho các phân khúc độ tuổi, giới tính và khả năng chi trả. Việc lựa chọn phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu đa chiều giúp lượng hóa chính xác các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng khách (22,1%/năm), cơ cấu nguồn nhân lực với 1.880 lao động trực tiếp, và cơ cấu thị trường quốc tế (khách Tây Âu chiếm 37%, Đông Bắc Á chiếm 20%). Timeline nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2009 đến tháng 11/2010 với các đợt điền dã và tổng hợp số liệu chuyên sâu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách và doanh thu du lịch tăng trưởng nhanh nhưng thiếu tính đột phá bền vững. Tổng lượt khách tăng gấp 2,04 lần từ 380.000 lượt năm 2005 lên 776.000 lượt năm 2009, doanh thu du lịch tăng gấp 2,37 lần từ 90 tỷ đồng lên 214 tỷ đồng. Tuy nhiên, thời gian lưu trú bình quân chỉ tăng nhẹ từ 1,75 ngày lên 1,85 ngày trong 5 năm, phản ánh sự thiếu hụt dịch vụ bổ trợ ban đêm và khu vui chơi giải trí cao cấp.

Thứ hai, cơ cấu thị trường khách quốc tế thể hiện sự phân hóa rõ rệt: khu vực Tây Âu dẫn đầu với 37% thị phần (chủ yếu là du khách Pháp với mức chi tiêu cao), thị trường Đông Bắc Á chiếm khoảng 20%, thị trường ASEAN chiếm 12%, Bắc Mỹ chiếm 11%, và thị trường Trung Quốc chiếm 9%.

Thứ ba, cơ sở lưu trú phát triển nhanh về số lượng nhưng hạn chế về phân khúc chất lượng cao. Toàn tỉnh có 98 khách sạn (gồm 92 cơ sở tư nhân và 6 cơ sở nhà nước), nhưng phần lớn là cơ sở quy mô nhỏ dưới 2 sao, phân bố tập trung chủ yếu ở thành phố Quy Nhơn, gây mất cân đối không gian du lịch.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực du lịch còn nhiều bất cập: trong tổng số 1.880 lao động trực tiếp (lao động nữ chiếm 66,5% với 1.250 người), chỉ có 2 người đạt trình độ trên đại học và 451 người có trình độ đại học, cao đẳng (chiếm 23,9%), trong khi lao động dưới sơ cấp và sơ cấp chiếm hơn 45%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ công tác quy hoạch du lịch chưa đồng bộ, sản phẩm du lịch văn hóa còn đơn điệu, các làng nghề như rượu Bàu Đá, tiện gỗ Nhạn Tháp hay dệt thổ cẩm Hà Ri chưa gắn kết chặt chẽ vào tour tuyến khép kín. Khi so sánh với các trung tâm du lịch lân cận thuộc vùng duyên hải miền Trung như Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam – nơi đón hàng triệu lượt khách quốc tế mỗi năm với tốc độ tăng trưởng trên 17% – du lịch Bình Định vẫn chịu sức ép cạnh tranh gay gắt do hạ tầng kết nối và xúc tiến quảng bá còn đi sau.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2005 – 2009 kết hợp đường xu hướng doanh thu, cùng biểu đồ tròn phân tích cơ cấu 5 thị trường khách quốc tế trọng điểm. Bảng tổng hợp hiện trạng 1.880 lao động phân theo trình độ chuyên môn giúp các nhà quản lý nhận diện khoảng trống lớn về năng lực quản trị và đội ngũ hướng dẫn viên ngoại ngữ cao cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện tổ chức quản lý và thể chế phát triển du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố đẩy mạnh cơ chế cải cách hành chính một cửa, chuẩn hóa quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và 1/500 cho 8 cụm di tích tháp Chăm và các khu vực trọng điểm như Nhơn Lý – Cát Tiến, suối nước nóng Hội Vân giai đoạn 2011 – 2015.

Hai là, đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định và các nhà đầu tư tư nhân tập trung mở rộng sân bay Phù Cát (duy trì công suất sử dụng ghế trên 85% và tăng tần suất kết nối), nâng cấp hệ thống cấp nước Quy Nhơn từ 20.000 m3/ngày đêm lên 45.000 m3/ngày đêm, thu hút đầu tư phát triển hệ thống khách sạn đạt chuẩn 3 đến 5 sao nhằm kéo dài thời gian lưu trú lên trên 2,5 ngày trước năm 2015.

Ba là, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng. Hiệp hội Du lịch cùng các doanh nghiệp lữ hành xây dựng 3 tuyến du lịch chuyên đề: Tuyến di sản Chămpa và văn hóa tâm linh (kết nối tháp Bánh Ít, tháp Cánh Tiên, Chùa Thập Tháp); Tuyến hành hương danh nhân và phong trào Tây Sơn (Bảo tàng Quang Trung, Điện Tây Sơn, Thành Hoàng Đế); Tuyến trải nghiệm 5 làng nghề truyền thống gắn với ẩm thực địa phương (rượu Bàu Đá, nem Chợ Huyện, bánh ít lá gai, nón ngựa Phú Gia). Mục tiêu nâng tỷ lệ khách tham gia tour văn hóa lên mức 45% tổng lượng khách.

Bốn là, chuẩn hóa và đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao. Các trường Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung phối hợp với các doanh nghiệp du lịch triển khai đào tạo thực hành chuyên sâu cho hơn 1.000 lao động giai đoạn 2011 – 2015, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch đạt trên 60%, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp và kỹ năng thuyết minh di sản.

Năm là, tăng cường xúc tiến, quảng bá và liên kết vùng. Trung tâm Xúc tiến Du lịch đẩy mạnh truyền thông thông điệp “Đất võ trời văn”, liên kết trục hành lang kinh tế Đông – Tây (Quốc lộ 19 dài 770km nối Nam Lào, Campuchia, Thái Lan) và chuỗi di sản miền Trung – Tây Nguyên, mục tiêu tăng trưởng lượng khách quốc tế đạt mức 20%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và văn hóa: Cán bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Định và các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có thể sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để xây dựng quy hoạch tổng thể, ban hành chính sách hỗ trợ phát triển 54 làng nghề truyền thống và bảo tồn 231 di tích lịch sử trên địa bàn.

Thứ hai, các doanh nghiệp lữ hành và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch: Giám đốc điều hành tour và quản lý khách sạn có thể khai thác dữ liệu nghiên cứu thị trường (37% khách Tây Âu, 20% khách Đông Bắc Á) để thiết kế các gói sản phẩm du lịch văn hóa chuyên biệt, tour võ cổ truyền và ẩm thực đặc sản phù hợp thị hiếu từng phân khúc.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành du lịch: Nguồn dữ liệu thống kê chi tiết giai đoạn 2005 – 2009 cùng khung phân tích quản lý điểm đến cung cấp case study thực chứng giá trị cho các công trình nghiên cứu về kinh tế du lịch và quản trị di sản văn hóa.

Thứ tư, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư tại các điểm đến di sản: Lãnh đạo các xã, huyện như An Nhơn, Tây Sơn, Phù Cát có thể tham khảo mô hình phát triển du lịch cộng đồng gắn với 99 lễ hội truyền thống để tạo sinh kế và gia tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tài nguyên du lịch văn hóa nổi bật nhất của tỉnh Bình Định là gì? Trả lời: Điểm sáng nổi bật nhất của Bình Định là hệ thống 8 cụm gồm 14 tháp Chăm nguyên vẹn độc đáo (như tháp Bánh Ít, tháp Dương Long), quần thể di tích phong trào Tây Sơn với Bảo tàng Quang Trung, cùng di sản phi vật thể đặc sắc như Võ cổ truyền Bình Định, nghệ thuật Bài Chòi, Hát Bội và 99 lễ hội truyền thống hàng năm.

Câu hỏi 2: Giai đoạn 2005 – 2009, tốc độ tăng trưởng du lịch Bình Định đạt mức bao nhiêu? Trả lời: Trong giai đoạn 2005 – 2009, lượng khách du lịch đến Bình Định tăng trưởng bình quân 22,1%/năm (từ 380.000 lượt năm 2005 lên 776.000 lượt năm 2009). Doanh thu du lịch toàn ngành tăng trưởng ấn tượng với tốc độ bình quân 24,0%/năm, tăng từ 90 tỷ đồng lên 214 tỷ đồng vào năm 2009.

Câu hỏi 3: Đâu là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bình Định? Trả lời: Hạn chế lớn nhất là sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, thiếu tính kết nối giữa các di tích và làng nghề; cơ sở lưu trú chủ yếu là quy mô nhỏ (92 khách sạn tư nhân trên tổng số 98 cơ sở); chất lượng nhân lực còn thấp với chỉ 23,9% có trình độ đại học, cao đẳng; và thời gian lưu trú ngắn chỉ đạt 1,85 ngày.

Câu hỏi 4: Thị trường khách quốc tế nào chiếm tỷ trọng lớn nhất tại Bình Định? Trả lời: Khách du lịch khu vực Tây Âu chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 37% tổng lượng khách quốc tế (trong đó du khách Pháp đóng vai trò nòng cốt). Tiếp theo là thị trường Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) chiếm gần 20%, thị trường ASEAN chiếm 12%, Bắc Mỹ chiếm 11% và Trung Quốc chiếm 9%.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất những tuyến du lịch văn hóa trọng điểm nào? Trả lời: Luận văn đề xuất xây dựng 3 tuyến trọng điểm: Tuyến di sản Chămpa và kiến trúc tôn giáo cổ; Tuyến lịch sử danh nhân - phong trào Tây Sơn gắn với biểu diễn nhạc võ; và Tuyến trải nghiệm 5 làng nghề tiêu biểu (rượu Bàu Đá, nón ngựa Phú Gia, đúc đồng Bằng Châu, rèn Phương Danh, dệt Hà Ri).

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện giá trị 231 di tích lịch sử - văn hóa và 99 lễ hội truyền thống, khẳng định tiềm năng vượt trội của thương hiệu du lịch “Đất võ trời văn”.
  • Đánh giá thực chứng tốc độ tăng trưởng lượng khách đạt 22,1%/năm và doanh thu tăng 24,0%/năm giai đoạn 2005 – 2009, đồng thời chỉ rõ điểm nghẽn về ngày lưu trú bình quân 1,85 ngày.
  • Phân tích chi tiết thực trạng 1.880 lao động trực tiếp và 98 cơ sở lưu trú, làm cơ sở khoa học để tái cơ cấu nguồn lực và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
  • Đóng góp hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ về quản lý nhà nước, hạ tầng kỹ thuật, chuỗi sản phẩm di sản, đào tạo nhân lực và xúc tiến thị trường quốc tế đến năm 2020.
  • Lộ trình giai đoạn 2011 – 2015 cần tập trung nâng cấp sân bay Phù Cát, hoàn thiện quy hoạch tỷ lệ 1/2000 các khu du lịch trọng điểm và nâng tỷ trọng du lịch trong GDP địa phương lên khoảng 10,6%.

Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu hãy cùng phối hợp khai thác sâu rộng các phát hiện khoa học từ luận văn để chung tay bảo tồn di sản và thúc đẩy du lịch Bình Định phát triển bứt phá.