Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM c ơ BẢN 7 ị. Đổi tượng, mục tiêu, nhiệm vụ cùa du lịch văn hóa 7 II. Một số thuật ngữ liên quan 15 III. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam 21 Chương 2: CÁC KỸ NĂNG, NGHIỆP v ụ DU LỊCH VĂN HÓA 38 I.
Các kỹ năng cơ bản khi nhận diện và khai thác các giá trị văn hoá 38 II. Nhận diện và khai thác các giá trị vãn hoá vật thể 41 III. Nhận diện và khai thác các giá trị văn hoá phi vật thể 80 IV. Xây dựng, xúc tiến và bán chương trình du lịch văn hóa 90 V.
Nghiệp vụ tổ chức và hướng dẫn du lịch văn hóa 109 VI. X â y d ụ n g , tổ chức, quản lý mô hình làng văn hoá phục vụ du lịch 133 VII. Dánh giá tác động cùa du lịch tới môi trường vàn hoá, xã hội 152 VIII. Giao tiếp, ứng xử văn hoá trơng du lịch 161 Chương 3: KỸ NĂNG, NGHIỆP v ụ DU LỊCH VĂN HÓA THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BÈN VỮNG 177 I.
Hằng số văn hoá Việt Nam và ánh hường tới du lịch văn hóa Việt Nam 177 II. Định hướng phát triền bền vững I8l III. Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá 188 Một số dề tài cho sinh vicn tập nghiên cứu 192 PHỤ LỤC 193 Phụ lục l : Một số hình ành minh hoạ 193 Phụ lục 2: Bài thuyết minh mẫu 207 Phụ lục 3: Hồ sơ di sản văn hoá thc giới ờ Việt Nam 224 Tài liệu tham khảo 269 3"> QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẤT Chính phủ CP Giáo sư GS Hướng dẫn viên HDV Khoa học xã hội và nhân văn KHXH&NV Nhà xuất bản Nxb Nghiên cứu sinh NCS Phó uiáo sư PGS Thành phố TP Thạc sĩ ThS l iến sĩ TS Trung ưong TW (}ĨĨẩỸ ểài'tắư a'fáư đc' Nếu chủng ta hình dung những lớp lang văn hỏa Việt như những vỉa tầng của mỏ quặng thì du lịch văn hóa phải chăng là những người thợ mỏ? Ngược với quy trình khai thác mỏ là làm giảm đl trữ lượng tài nguyên, ở đây, những vỉa tầng trầm tích của mỏ quặng văn hóa Việt cử giàu cỏ mãi bời sự khai thác đúng hướng của du lịch vân hóa. Nhưng như thế nào là đúng hưởng? Đây là một câu hỏi đặt ra cho toàn ngành du lịch, ở vị trí là những giảng viên giảng dạy Du lịch nói chung, Du lịch vãn hóa nói riêng, chúng tôi bắt đầu bằng một công việc nhỏ bé là xây dựng cuốn giáo trình này để giảng dạy cho sinh viên ngành du lịch cũng là mong góp sức trả lời câu hỏi trên.
Suy cho đến cùng thi cái đích của du lịch là sự trải nghiệm của từng cá thé, trong thời gian, không gian nào đó, nơi mà thiên nhiên kỳ thú hay huyền thoại về miền đất mới, những khát vọng sổng và cả nỗi đau nhân tình thế thái bao đời được cắt lát, phối chiéu, thấm lặn hay tan rã thành những mảnh vụn còn vương sót qua những tập tục, lễ hội, ẩm thực, làng nghề, kiến trúc, tín ngưởng. Du lịch vân hóa là phương tiện hữ’u hiệu, vì du lịch văn hóa làm trùng điệp những vỉa tầng của văn hỏa Việt bởi sự tương tác của lí luận, của nghiệp vụ, của ứng xử văn hỏa, của triển khai, của những điều có thé giải thích và không thể giải thích đang vươn lên từ đời sống bên trong của di tích, lễ hội, tập tục. Du lịch vàn hóa chuyển tải những điều vô hình mà cỏ thực ấy một cách tế nhị vào đáy nhìn của du khách, âm thầm góp phần xây lên những tư duy tích cực, bổ sung cho thải độ sống của con người trước tự nhiên và xã hội. Du lịch văn hỏa là gì? Đó là những kiến thức nền, phương pháp tiếp cận và ứng xử văn hóa, những cách thức triển khai hàng loạt nghiệp vụ như: nghiệp vụ hướng dẫn du lịch, nghiệp vụ xảy dựng, giới thiệu và bán chương trình du lịch vân hỏa, những vấn đề của di tích, phần “chìm”, “nổi” và ứng dụng của di sản vân hóa vật thể và phi vật thể.
Những ván đề trên được đưa ra vừa khải quát đẻ ôm choán lảy tổng thẻ, lại vừa phải rất cụ thẻ, thực tế, thật nhỏ nhặt và trần thuật như cỏ thẻ cầm nắm vấn đề được vì đối tượng của cuốn sách này là sinh viên. Tham vọng lởn nhất của cuốn sách hay môn học này là “cầm tay chỉ việc”, giúp sinh viẽn du lịch nói chung, chuyên ngành lữ hành nói riêng có thể tác chiến nhuần nhuyễn trong thực địa vốn đầy phức tạp, biến động. Nhát là khi chuyên ngành này chưa có giáo trình, chưa có sách chuyên khảo, tham khảo, dẫn đến việc học tập của sinh viên gặp khó khăn. Đành rằng đó là lịch sử nhưng chúng tồi thật sự quan ngại bởl vì giảng dạy sai, thiếu tài liệu tin cậy, nhát là ở lĩnh vực văn hóa sẽ đẻ lại hậu quả nghiêm trọng không thể 5 đo đếm được.
Nhận thức được những hạn chế ấy, mong muốn cống hiến cho sinh viên, chúng tôi-dè dặt và "liều lĩnh” lạm bàn vấn đề du lịch văn hóa. Ban đầu, chúng tôi xác định môn học này như một thừ nghiệm dài hơi, giáo trình này như một đề xuất ban đẩu mong các nhà khoa học quan tâm. Nhưng sau một thời gian trực tiếp giảng dạy, môn học này được dần hoàn chỉnh và cuốn giáo trinh đã nhận được những đóng góp, phản hồi đẻ sách lại tiếp tục được chúng tôi tái bản. Việc tái bản lần này vừa nhằm đáp ứng nhu cầu của người học, người nghiên cửu vả cũng đồng thời là cơ hội để chúng tôi hoàn chỉnh một tài liệu chuyên ngành lần đầu được soạn cho bộ môn này.
Đây chỉ là bước đi đầu tiên trong lộ trình dài dặc của người làm khoa học. Tập thẻ tác giã xin gửi lởi cảm ơn chân thành tới: - Thượng toạ Thích Minh Hiền, Giảng sư Học viện Phật giáo Việt Nam. - Nghiên cứu sinh Nguyễn Đức, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp stroganova, Matxcơva, Cộng hoà Liên bang Nga. - Bác s ĩ Nguyễn Thái Định, xóm Ngòi, Chu Quyến.
- Các cựu sinh viên khoá K51, K52; các học viên cao học Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các đồng nghiệp, bạn bè đã cung cắp một số tư liệu hữu ích để hoàn thành cuốn sách này. Dẫu rằng, nhóm tác giả chúng tôi đã phấn đấu, gắng gỏi đi đến cuối con đường mà mình lựa chọn nhưng sự sai sót là khó tránh khỏi. Kính mong nhận được sự đóng góp của độc giả và những người quan tâm, đặc biệt là các bạn sinh viên đẻ những kiến thức lý luận và nghiệp vụ này thực sự trở thành cẩm nang hướng dẫn các bạn trường thành hơn trong nghề nghiệp của minh. Thư góp ý xin gửi ve: Công ty c ổ phần sách Đại học - Dạy nghề, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 25 Hàn Thuyên, Hà Nội Đông chí, 2013 Thay mặt tập thể tác giả TS.
TRIỆU THẾ VIỆT 6 CÁC KHÁI NIỆM Cơ BẢN (■■ĩ) --------------------------------------------------------------------------------------------------\ -------------------------------------------------------------------------------------------------- Đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ của du lịch văn hoá 1. Quan niệm về du lịch văn hoá Việt Nam vừa được ghi nhận là nước có thị trường du lịch tốt nhất khu vực, trong đó có du lịch văn hoá. “Du lịch văn hoá bao gồm hoạt động cua những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hoá như các chươìig trình nghiên cứu, tìm hiêu vê nghệ thuật biểu diễn, về các lê hội và các sự kiện văn hoá khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hoá hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương ” (UNW TO)‘. “Du lịch văn hoá là loại hình du lịch mà mục tiều là khám phá những di tích và di chì.
Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn. Loại hình này trên thực tể đã minh chứng cho những no lực bảo tôn và tôn tạo, đáp ứtĩg nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hoá - kinh t ế - x ã h ộ i” (ICOMOS)123. Theo Luật Du lịch, “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia cùa cộng đồng nhằm bao tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Ở nhiều nước, nhất là ở Đông Nam Á (theo SEAMEO SPAFA?), về mặt lý thuyết, người ta xếp loại hình Du lịch văn hoá (cultural tourism) vào loại hình Du lịch sinh thái (eco tourism) bởi theo họ, sinh thái học (ecology) cũng bao gồm cả sinh thái học nhân văn (human ecology). 1 UNWTO: United Nation World Tourism Organization (Tồ chức Du lịch Thế giới).
2 ICOMOS: International Council On Monuments & Sites (Hội đồng Quốc tế các di chi và di úch). 3 SEAMEO SPAEA: Southeast Asian Ministers of Education Organization - Regional Centre for Archaeology & Fine Arts (Tô chức các Bộ trướng Giáo dục Đông Nam A vê Khảo cổ học và Mỹ thuật). 7 Ở Việt Nam, ta nhận thấy có sinh cảnh môi trường tự nhiên với sự đa dạng cùa các hệ sinh thái (từ núi đồi, cao nguyên, châu thổ đến ven biển, hải đảo và đa dạng sinh học). Tâm thức Việt Nam thích sống hoà hợp với tự nhiên, nên ở Việt Nam đi tham quan thắng cảnh tự nhiên thường cũng đông thời là tham quan di tích - di sản văn hoá.
“Du lịch văn hoá là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lừ hành tham quan các công trình văn hoá cô kim"4. Ví dụ: Ở Hà Nội, tham quan du lịch Hồ Tây kết hợp thăm đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, dinh Nhật Tân, phủ Tây Hồ, đền Mục Thận,. đầy đủ tam giáo và tín ngưỡng dân gian. Đi du lịch Lào Cai vừa là lên Sa Pa, vừa tham quan đền Đức Thánh Trần sát biên giới, bên bờ Nậm Thi, thăm Hà Khẩu Bát Xát, chợ Bảo Hà, uống rượu ngô H’mông, rượu thóc Sán Lùng, mua lâm thổ sản, đồ thổ cẩm,.
Du lịch Hạ Long là sự kết hợp giữa việc ngắm kỳ quan tuyệt đẹp với việc thường lãm núi Bài Thơ, cảng Vân Đồn, hang Dầu Gỗ và hình dung lại trận chiến Nguyên - Mông năm xưa. Vào Huế, cơ hội mớ ra cho sự trải nghiệm là sông Hương - núi Ngự hoà quyện với cung điện, hoàng thành, lăng vua, phù chúa, nhà vườn, thưởng thức bánh khoái cửa Thượng Tứ, cơm hến,. Bới vậy, theo tương dối luận văn hoá (cultural relativism), mọi ranh giới phân loại đều mong manh. Lấy văn hoá làm điểm tựa, du lịch văn hoá mang sứ mệnh tôn vinh v à .