Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 1. Một số khái niệm 1. Du lịch Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau, sau đây là một số quan niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến. Du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước hay ranh giới một vùng, một khu vực để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm (Lesley Pender & Richard Sharpley, 2005).
Như vậy, có thể xem xét du lịch thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Du lịch có thể được hiểu “là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”. Với các cách tiếp cận nói trên du lịch mới chỉ được giải thích dưới góc độ là một hiện tượng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch. Xem xét du lịch một cách toàn diện hơn thì cần phải cân nhắc tất cả các chủ thể tham gia các hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ.
Các chủ thể bao gồm: - Khách du lịch: Là người có nhu cầu, mong muốn đi du lịch, họ lựa chọn và quyết định nơi đến du lịch và các hoạt động tham gia, thưởng thức trong các chuyến đi. - Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và du lịch, đây là cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung ứng hàng hóa và các dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường khách du lịch. - Chính quyền sở tại: Những người lãnh đạo chính quyền địa phương nhìn nhận du lịch như nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọng về thu nhập từ các hoạt động kinh doanh cho dân địa phương, ngoại tệ 5 thu được từ khách quốc tế và tiền thuế thu được cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. - Dân cư địa phương: Coi du lịch như một nhân tố tạo ra việc làm và giao lưu văn hóa.
Theo cách tiếp cận này “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch” “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” 1. Du lịch sinh thái Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 quy định: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường”. DLST phát triển ở những khu vực tương đối hoang sơ, dựa trên các HST tự nhiên và thúc đẩy phát triển cộng đồng, do đó loại hình du lịch này đảm bảo sự quan tâm đến thiên nhiên và môi trường, trách nhiệm với xã hội và cộng đồng. Tài nguyên DLST tạo ra tính hấp dẫn của du lịch, là nền tảng cho phát triển DLST, bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một HST cụ thể và giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời HST tự nhiên đó.
Tài nguyên DLST bao gồm: các HST tự nhiên đặc thù, đặc biệt nơi có tính ĐDSH cao; các HST nông nghiệp (ví dụ: vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa, cây cảnh,.); các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của HST tự nhiên với các phương thức canh tác, các lễ hội sinh hoạt truyền thống gắn liền với các truyền thuyết của cộng đồng. Khai thác tài nguyên DLST cho hoạt động DLST cần chú trọng các đặc điểm của dạng tài nguyên này. Sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho khách du lịch, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó. Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay nó bao gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hóa du lịch. Dịch vụ du lịch Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng ở dạng phi vật chất. Dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các quốc gia trên thế giới hiện nay có xu hướng tăng dần tỷ trọng của các ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế.
“Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” Dịch vụ du lịch là một bộ phận cấu thành nên sản phẩm du lịch, là phần chiếm tỷ trọng cao nhất trong sản phẩm du lịch. Phát triển du lịch sinh thái “Phát triển du lịch sinh thái là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và văn hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế trong khi vẫn đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống cho cộng đồng địa phương” 1. Các loại hình du lịch sinh thái Căn cứ vào sự phân bố địa lý, DLST bao gồm các hình thức: “DLST biển; các hình thức DLST rừng, núi, hang động; các hình thức DLST đồng bằng”: 7 - Các hình thức DLST biển: DLST biển được coi là loại hình du lịch truyền thống gắn liền với biển, cát và nắng. Chính nó đã khởi đầu cho DLST phát triển.
Trên thế giới đã xuất hiện nhiều loại du lịch sinh thái biển như: Tắm biển, phơi nắng, thăm cảnh quan bằng tàu trên biển, bơi lặn có ống thở, hoặc lặn có bình khí nén để tham quan, nghiên cứu các hệ sinh thái san hô, cỏ biển, thám hiểm lòng đại dương bằng tàu ngầm, các hoạt động giải trí thể thao trên biển như nhảy dù… - Các hình thức DLST rừng núi, hang động: đi bộ trong rừng, tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, cắm trại, tham quan khám phá hang động, quan sát chim, ngắm nhìn động vật hoang dã, leo núi, trượt tuyết… - Các hình thức DLST đồng bằng: Tham quan miệt vườn, trang trại, dã ngoại đồng quê, quan sát chim, ngắm nhìn động vật thuần dưỡng…Hoạt động tham quan các vườn thực vật, khu nuôi động vật hoang dã hoặc phòng trưng bày các mẫu động, thực vật bản địa có yếu tố giáo dục, giải thích và bao hàm những mục tiêu của DLST cũng được coi là hoạt động DLST. Vai trò và đặc điểm của phát triển du lịch sinh thái 1. Vai trò của phát triển du lịch sinh thái Theo Hiệp hội DLST Thế giới (The International Ecotourism Society) thì DLST có rất nhiều ý nghĩa trong đó có thể kể đến một số vai trò sau: 1. Vai trò về kinh tế Thực tế đang diễn ra trên thế giới cho thấy DLST đã mang lại nguồn thu đáng kể, góp phần kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành: công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản,.
thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương và quốc gia. Mặt khác, việc phát triển DLST đã đóng góp tích cực vào sự phát triển của hoạt động du lịch, tạo nên sức thu hút, sự hấp dẫn của điểm du lịch. Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới ( Lê Thị 8 Ngân,2022), hiện tại DLST chiếm khoảng 20 thị trường du lịch thế giới và dự báo trong vài năm tới sẽ là phân ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong hoạt động du lịch, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của nhiều vùng, nhiều quốc gia. Vai trò về xã hội - Nâng cao thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm cho cư dân nơi có tổ chức các loại hình hay chương trình DLST.
Nếu nhờ các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các doanh nghiệp du lịch thì ngược lại, lợi nhuận từ DLST sẽ dành một phần đáng kể để đóng góp cải thiện môi trường, nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương. Bên cạnh đó DLST sẽ luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng địa phương dưới nhiều hình thức dịch vụ: hướng dẫn viên (Guider), lưu trú tại nhà dân (Homestay), cung ứng các nhu cầu về thực phẩm (Food Supply), về hàng lưu niệm cho khách (Souvenir Supply),. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc giảm sức ép của cộng động sống trong vùng đệm các VQG, KBT thiên nhiên lên môi trường và ĐDSH. Việc phát triển DLST tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là cộng đồng địa phương.
DLST phát triển làm thay đổi cách sử dụng tài nguyên truyền thống, thay đổi cơ cấu sản xuất, thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở tài nguyên và nội lực của mình. Phát triển DLST góp phần cải thiện đáng kể đời sống văn hóa xã hội của nhân dân. DLST tạo điều kiện đẩy mạnh sự giao lưu văn hóa giữa du khách và người địa phương, góp phần làm cho đời sống văn hóa - xã hội những vùng này càng trở lên sôi động hơn, văn minh hơn. Với hệ số sử dụng lao động cao, DLST đã trở thành một giải pháp giải quyết lao động, biện pháp hữu hiệu nhằm tạo công ăn việc làm, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa.
Ngoài ra, DLST phát triển tốt, nhiều dịch vụ du lịch chất lượng cao được tăng cường, điều đó tạo điều kiện giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tuy 9 nhiên về phía người dân bản địa dù dưới hình thức nào khi đã thương mại hóa thì văn hóa của họ cũng bị ảnh hưởng, du lịch luôn du nhập những thói quen có thể tích cực, có thể tiêu cực.