Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế phát triển du lịch hiện đại, nhu cầu của du khách trong và ngoài nước đang chuyển dịch mạnh mẽ về các điểm đến giàu bản sắc văn hóa bản địa và cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ. Tại Việt Nam, du lịch cộng đồng (DLCĐ) được xác định là phương thức khai thác tài nguyên hiệu quả, vừa tạo sinh kế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, vừa bảo tồn các giá trị di sản truyền thống và bảo vệ môi trường sinh thái. Nhiều địa phương như Lào Cai (Sa Pa, Bắc Hà), Quảng Nam (Hội An), Đắk Lắk, Hòa Bình đã bước đầu khai thác thành công mô hình này.

Tại thành phố Hà Nội, xã Ba Vì (huyện Ba Vì) là địa bàn sinh sống tập trung lâu đời của đồng bào người Dao (nhóm Dao Quần Chẹt), chiếm tới 98% dân số toàn xã. Sau quá trình hạ sơn định cư, cộng đồng người Dao nơi đây vẫn lưu giữ được hệ thống tri thức dân gian phong phú, đặc biệt là nghề thuốc Nam truyền thống, cùng kho tàng văn hóa phi vật thể đặc sắc như lễ Cấp sắc, Tết Nhảy, làn điệu Páo Dung, văn hóa ẩm thực và trang phục thủ công. Mặc dù sở hữu tài nguyên tự nhiên và nhân văn dồi dào, hoạt động du lịch tại xã Ba Vì thời điểm nghiên cứu vẫn mang tính tự phát, chưa hình thành sản phẩm du lịch cộng đồng hoàn chỉnh, khách đến chủ yếu mua thuốc Nam rồi rời đi trong ngày. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Lê Mỹ Linh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch – Lữ hành nhằm đánh giá toàn diện tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển DLCĐ tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung chính:

  1. Điều tra, nghiên cứu và hệ thống hóa các giá trị văn hóa, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của cộng đồng người Dao tại xã Ba Vì; từ đó đánh giá tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng tại địa bàn.
  2. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị khả thi nhằm phát triển du lịch cộng đồng bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác kinh tế với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng; điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn (ẩm thực, trang phục, lễ hội, nghề thuốc Nam), thực trạng hạ tầng, sự tham gia của người dân và giải pháp phát triển DLCĐ của người Dao tại xã Ba Vì.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, trọng tâm khảo sát thực tế tại các thôn bản người Dao sinh sống (Yên Sơn, Hợp Sơn, Hợp Nhất).
  • Phạm vi thời gian: Sử dụng số liệu thứ cấp về hoạt động kinh tế, du lịch trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018; các dữ liệu sơ cấp được thu thập qua hai đợt điều tra điền dã thực tế vào tháng 3/2019 và tháng 4/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các công trình nghiên cứu về du lịch cộng đồng trong và ngoài nước. Tác giả tiếp cận các khái niệm nền tảng về "cộng đồng" của Midgley (1986), Keith và Any (1998), Schmink (1999) và "cộng đồng địa phương" của Nguyễn Hữu Nhân (2004). Về thuật ngữ du lịch cộng đồng (Community Based Tourism - CBT), tác giả tổng hợp định nghĩa từ tổ chức REST (Responsible Ecological Social Tours, 1997), Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009), nhấn mạnh tính chất sở hữu, quản lý của người dân bản địa và mục tiêu chia sẻ lợi ích. Khung lý thuyết của đề tài kế thừa các luận điểm từ Murphy (1986), Roberts và Derek Hall (2001), Derek Hall (2003), Sue Beeton (2006); cùng các nghiên cứu trong nước của TS. Võ Quế (2006) và PGS.TS. Phạm Trung Lương.

Tác giả vận dụng mô hình ba trụ cột phát triển bền vững (Triple Bottom Line) gồm kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời phân tích 4 nguyên tắc vận hành DLCĐ: bình đẳng xã hội; tôn trọng văn hóa địa phương và di sản thiên nhiên; chia sẻ lợi ích kinh tế; quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng.

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, khóa luận sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu khách du lịch giai đoạn 2016–2018 từ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội, Ban Dân tộc, UBND huyện Ba Vì và UBND xã Ba Vì; kết hợp tham khảo sách chuyên khảo về tộc người Dao (Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, 1971; Nguyễn Xuân Diệu; Phùng Văn Giang, 2012).
  • Phương pháp khảo sát điền dã: Quan sát trực tiếp cảnh quan, môi trường cư trú, nhà ở, quy trình thu hái và bào chế thuốc Nam; trải nghiệm sinh hoạt văn hóa ẩm thực, trang phục của người Dao tại các thôn bản.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phát phiếu hỏi cấu trúc và phỏng vấn sâu qua 2 đợt khảo sát:
    • Đợt 1 (tháng 3/2019): Khảo sát khách du lịch tại xã Ba Vì, phát ra 120 phiếu, thu về 105 phiếu hợp lệ (n = 105) nhằm thu thập thông tin về độ tuổi, nghề nghiệp, thời gian lưu trú, mục đích chuyến đi và mức độ hài lòng về thái độ của người dân bản địa.
    • Đợt 2 (tháng 4/2019): Khảo sát cộng đồng dân cư tại thôn Yên Sơn (xã Ba Vì), phát ra 80 phiếu, thu về 60 phiếu hợp lệ (n = 60) nhằm tìm hiểu khả năng cung ứng dịch vụ và nguyện vọng tham gia hoạt động du lịch của các hộ gia đình.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Xử lý, thống kê dữ liệu định lượng từ phiếu khảo sát, đối chiếu với tài liệu thứ cấp để đưa ra các nhận định khách quan về tiềm năng và rào cản phát triển du lịch tại địa bàn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu du lịch cộng đồng trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả làm rõ các khái niệm cốt lõi: cộng đồng, cộng đồng địa phương, du lịch cộng đồng và mối quan hệ tương hỗ giữa người dân bản địa với tài nguyên du lịch. Khóa luận phân tích 7 điều kiện cơ bản để hình thành điểm đến DLCĐ, bao gồm: tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới giao thông vận tải, dịch vụ hỗ trợ (điện, nước, viễn thông, y tế), sự sẵn sàng tham gia của cộng đồng, vai trò quản lý của chính quyền địa phương và sự đồng hành của doanh nghiệp lữ hành.

Nội dung chương cũng chỉ rõ các bên liên quan tham gia vào hệ thống DLCĐ gồm: cộng đồng dân cư, chính quyền các cấp, công ty lữ hành, đơn vị vận chuyển, du khách, cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và cộng đồng vùng phụ cận. Chương 1 khép lại bằng việc phân tích 4 nhóm tác động tích cực của DLCĐ: nâng cao thu nhập xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy công bằng xã hội thông qua quỹ cộng đồng, giải quyết việc làm tại chỗ hạn chế di cư, và bảo tồn di sản văn hóa bản địa cùng môi trường sinh thái tự nhiên.

Chương 2: Các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng của người Dao tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng các điều kiện tài nguyên, hạ tầng và xã hội học tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên và dân cư: Xã Ba Vì có diện tích tự nhiên 2.540,69 ha, cách trung tâm huyện Ba Vì 17 km và cách trung tâm Hà Nội gần 60 km. Địa hình đồi núi dốc phân hóa theo đai cao, thổ nhưỡng feralit điển hình (feralit vàng trên 1.000 m; feralit vàng nâu từ 500–1.000 m; feralit vàng đỏ dưới 500 m), tạo điều kiện cho nhiều loài dược liệu tự nhiên phát triển. Khí hậu nhiệt đới ẩm vùng núi, nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, lượng mưa trung bình 2.500 mm. Dân số toàn xã năm 2017 có 505 hộ với 2.230 nhân khẩu (tăng từ 326 hộ năm 2008), trong đó người Dao Quần Chẹt chiếm 98%, cư trú phân tán tại 3 thôn Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất.
Chỉ tiêu dân số xã Ba Vì Năm 2008 Năm 2017
Số hộ gia đình 326 505
Nhân khẩu ~1.800 2.230
Tỷ lệ người Dao (%) 98% 98%
  • Tài nguyên du lịch nhân văn:
    • Nghề thuốc Nam truyền thống: Hơn 80% cư dân trong xã nắm giữ tri thức làm thuốc Nam gia truyền. Thôn Yên Sơn được công nhận là làng nghề thuốc Nam truyền thống. Hai bài thuốc tạo dựng thương hiệu nổi bật là thuốc tắm đẻ - lợi sữa cho phụ nữ sau sinh và thuốc tắm khỏe người. Ngoài ra, đồng bào còn sở hữu các bài thuốc đặc trị xương khớp (nấu cao lá bách thảo từ gần 100 vị lá như Pù chặt mau, Tầm kha mhây, Ngồng chan, Dào kía, Dào bay...), sỏi thận (dùng Nhầm nhỏ nha, Chuối rừng, Kim tiền thảo), trĩ (Cùng kẹt, Thầu dầu tía, Xà lậu lọ).
    • Văn hóa ẩm thực: Món cỗ lá mang tính biểu tượng, sắp xếp thịt lợn, lòng dồi, dạ dày trên lá chuối rừng bánh tẻ, trong đó miếng gan được đặt trên cùng dành cho già làng, trưởng bản; các món rau rừng (mùi khai, ngọn lá sắn non, rau đớn, cải làn) xào hoặc nấu canh; rượu men lá truyền thống và các loại nước đun từ rễ thảo dược, hạt vối, chè xanh.
    • Trang phục truyền thống: Nữ phục Dao Quần Chẹt gồm khăn dài (mù goòng đia), khăn vấn ngoài (goòng xổng), áo dài chàm xẻ tà thêu hoa văn chỉ màu (miền xịa lui), yếm đính khuy bạc, thắt lưng vải (coòng), quần ống hẹp mở góc 120 độ (miền xía hẩu) và xà cạp trắng (chì kẹo) quấn bên ngoài gấu quần để tránh vắt rừng. Trang phục cô dâu mặc lồng 2 lớp áo, 2 quần, 2 yếm (có yếm đào lui ton xị), 2 thắt lưng (có thắt lưng vải thô trắng la xịn), khăn phủ pả và khăn đỏ che mặt (goong xị). Nam phục gồm áo cánh chàm 4 vạt 3 túi thêu sao tám cánh (miền chạng lui), quần chân què (miền chạng hẩu) và khăn đội đầu thêu hoa văn guồng nước.
    • Văn hóa tinh thần: Nghi lễ Tết Nhảy diễn ra từ giữa tháng 11 âm lịch đến 25 tháng Chạp nhằm cúng Bàn Vương và tổ tiên, thực hiện các điệu múa chuông, múa rùa, múa kiếm bên bộ 22 bức tranh thờ Đạo giáo và bàn thờ tổ cao 2 m; lễ Cấp sắc – dấu mốc bắt buộc công nhận sự trưởng thành tâm linh và xã hội của người đàn ông Dao; phong tục cưới hỏi theo nếp "đi lẻ về chẵn" (đoàn nhà trai đi 7 hoặc 9 người) với các lễ tơ hồng, kết duyên; tục tang ma chia làm lễ mai táng và đám chay tiễn hồn; các làn điệu dân ca Páo Dung ngẫu hứng.
  • Khả năng liên kết tuyến điểm: Xã Ba Vì nằm sát Vườn Quốc gia Ba Vì (sở hữu 1.209 loài thực vật, 503 loài cây thuốc quý, 342 loài động vật có xương sống), đền Thượng trên đỉnh Tản Viên (độ cao 1.227 m thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn) và khu du lịch Khoang Xanh - Suối Tiên (hơn 200 ha), tạo tiềm năng kết nối tour đa dạng.
  • Thực trạng hạ tầng, cơ sở vật chất và sự tham gia của cộng đồng: Đường giao thông liên thôn đã trải nhựa nhưng đường nội bản còn hẹp; mạng lưới điện lưới và sóng viễn thông đạt chuẩn nhưng trạm y tế còn thiếu thiết bị. Toàn xã chưa có mô hình homestay nào đạt tiêu chuẩn, chỉ có 2 nhà nghỉ bình dân tư nhân; kiến trúc nhà truyền thống của người Dao còn lại rất ít do người dân xây nhà kiên cố hiện đại. Kết quả khảo sát 60 hộ dân thôn Yên Sơn cho thấy sự phân hóa trong nguyện vọng tham gia du lịch:
Dịch vụ du lịch người dân mong muốn tham gia Số hộ (n = 60) Tỷ lệ (%)
Bán hàng (chủ yếu là thuốc Nam) 21 35,0%
Phục vụ ăn uống 15 25,0%
Dịch vụ lưu trú (ở) 11 18,3%
Vận chuyển / chở khách 6 10,0%
Hướng dẫn viên địa phương 5 8,3%
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ 2 3,7%

Khảo sát 105 du khách phản ánh: khách đánh giá cao sự thân thiện, chất phác của người Dao, nhưng đa phần đến xã chỉ với mục đích chính là bốc thuốc, mua thảo dược rồi về trong ngày, tỷ lệ lưu trú qua đêm gần như bằng không do thiếu thốn cơ sở lưu trú và dịch vụ giải trí đi kèm.

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng của người Dao tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội

Dựa trên kết quả khảo sát thực địa, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Giải pháp cơ sở hạ tầng và kỹ thuật: Quy hoạch, cải tạo mở rộng các tuyến đường liên thôn, ngõ xóm vào bản; hỗ trợ vốn vay ưu đãi để các hộ dân xây dựng mô hình homestay đạt chuẩn (bố trí phòng ngủ riêng biệt, công trình vệ sinh tự hoại sạch sẽ, giữ gìn nét kiến trúc nhà truyền thống); xây dựng trạm dừng chân, điểm trưng bày giới thiệu sản phẩm thảo dược và nhà văn hóa cộng đồng.
  • Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ du lịch cộng đồng cho người dân bản địa (kỹ năng đón tiếp, buồng bàn bar, chế biến món ăn an toàn vệ sinh thực phẩm, kỹ năng thuyết minh dẫn tuyến); đào tạo ngoại ngữ giao tiếp cơ bản (tiếng Anh) nhằm tiếp cận đối tượng khách du lịch quốc tế; nâng cao nhận thức pháp luật về du lịch và bảo vệ tài nguyên.
  • Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng:
    • Xây dựng sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng trị liệu: trải nghiệm ngâm chân, tắm lá thuốc Nam người Dao, tham quan vườn dược liệu, trực tiếp tham gia quy trình thu hái và sơ chế, nấu cao lá bách thảo cùng nghệ nhân.
    • Xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa trải nghiệm: thưởng thức ẩm thực cỗ lá, học may thêu trang phục thổ cẩm Dao Quần Chẹt, giao lưu văn nghệ dân gian nghe hát Páo Dung và tái hiện nghi thức trích đoạn lễ hội Tết Nhảy, lễ Cấp sắc phục vụ du khách.
  • Giải pháp bảo tồn văn hóa và môi trường: Bảo vệ nghiêm ngặt nguồn gen cây thuốc Nam tự nhiên trên dãy núi Ba Vì; quy hoạch các vùng trồng dược liệu chuyên canh thay vì khai thác tận diệt trong rừng tự nhiên; khôi phục phong trào mặc trang phục truyền thống trong dịp lễ hội; xử lý nước thải sinh hoạt và rác thải từ bã thuốc, đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn.
  • Giải pháp xúc tiến, quảng bá và liên kết: Xây dựng ấn phẩm du lịch, biển chỉ dẫn, bản đồ du lịch cộng đồng; ứng dụng mạng xã hội và cổng thông tin du lịch Hà Nội để quảng bá; chủ động liên kết với các công ty lữ hành tại Hà Nội đưa xã Ba Vì vào tour kết nối Vườn Quốc gia Ba Vì – Khoang Xanh Suối Tiên – Bản người Dao Yên Sơn.
  • Kiến nghị: Tác giả gửi kiến nghị đến 4 nhóm đối tượng: các cơ quan Trung ương (hỗ trợ chính sách vốn, công nhận làng nghề); chính quyền thành phố Hà Nội và huyện Ba Vì (đầu tư hạ tầng giao thông, xúc tiến quảng bá, quy hoạch đề án DLCĐ); người dân địa phương (nâng cao ý thức cộng đồng, liên kết hợp tác tránh cạnh tranh không lành mạnh); các doanh nghiệp lữ hành (hỗ trợ đưa luồng khách bền vững về bản và hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ cho bà con).

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa được thực trạng phát triển du lịch tại xã Ba Vì thông qua hệ thống dữ liệu sơ cấp cụ thể:

  • Làm rõ cơ cấu kinh tế - xã hội địa phương với 98% dân số là người Dao Quần Chẹt (2.230 nhân khẩu), trong đó trên 80% hộ gia đình nắm giữ tri thức y học cổ truyền làm thuốc Nam.
  • Khảo sát và xác định mức độ sẵn sàng tham gia các khâu dịch vụ của người dân thôn Yên Sơn: cao nhất là bán thuốc Nam (35,0%), tiếp đến là phục vụ ăn uống (25,0%), làm dịch vụ lưu trú (18,3%), vận chuyển khách (10,0%), hướng dẫn viên (8,3%) và thấp nhất là làm đồ thủ công mỹ nghệ (3,7%).
  • Xác định điểm nghẽn lớn nhất của du lịch xã Ba Vì thời điểm 2019: chưa có hộ gia đình nào triển khai mô hình homestay, toàn xã chỉ có 2 nhà nghỉ nhỏ, khiến du khách không có địa điểm lưu trú, làm sụt giảm nguồn thu từ dịch vụ gia tăng.
  • Đóng góp thực tiễn của đề tài là việc định hình rõ mô hình sản phẩm du lịch đặc thù cho xã Ba Vì: du lịch nghỉ dưỡng trị liệu bằng thuốc Nam kết hợp trải nghiệm văn hóa dân tộc Dao, thay vì phát triển dàn trải theo mô hình du lịch sinh thái đại trà.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên nội dung và phạm vi trình bày của văn bản, nghiên cứu còn một số giới hạn nhất định:

  • Dữ liệu khảo sát xã hội học về hộ dân mới chỉ tập trung tại thôn Yên Sơn (60 hộ), chưa bao quát toàn diện các hộ dân tại hai thôn còn lại là Hợp Sơn và Hợp Nhất.
  • Các số liệu thứ cấp về lượng khách du lịch dừng ở giai đoạn 2016–2018, chưa phản ánh được biến động dài hạn của thị trường khách du lịch sau năm 2019.
  • Khóa luận dừng lại ở việc đề xuất phương hướng, giải pháp tổng thể, chưa xây dựng được mô hình kinh doanh homestay chi tiết kèm phương án tài chính, hạch toán vốn đầu tư cụ thể cho từng hộ gia đình, cũng như chưa đánh giá sức chứa môi trường sinh thái của xã khi lượng khách tăng cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra toàn diện cả 3 thôn bản, tính toán sức chứa du lịch của vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì và thiết kế tour thử nghiệm liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành nội địa.

Giá trị tham khảo của khóa luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Mỹ Linh là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Đối với sinh viên ngành Du lịch, Quản trị Lữ hành và Dân tộc học: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp khảo sát điền dã, thiết kế phiếu điều tra xã hội học và cách tiếp cận đánh giá tiềm năng DLCĐ tại một địa bàn dân tộc thiểu số cụ thể.
  • Đối với cán bộ quản lý văn hóa - du lịch địa phương: Báo cáo phản ánh chân thực các số liệu thực trạng hạ tầng, tâm lý và mức độ sẵn sàng của người dân xã Ba Vì năm 2019, là cơ sở dữ liệu hữu ích cho UBND xã Ba Vì và UBND huyện Ba Vì trong công tác xây dựng đề án, quy hoạch làng du lịch cộng đồng người Dao.
  • Đối với các doanh nghiệp lữ hành: Cung cấp thông tin chi tiết về các giá trị văn hóa độc thù (thuốc Nam, cỗ lá, Tết Nhảy, Cấp sắc, Páo Dung) và các điểm kết nối phụ cận (VQG Ba Vì, đền Thượng, Khoang Xanh) để xây dựng chương trình tour trải nghiệm mới lạ tại ngoại thành Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm đặc trưng nhất trong văn hóa trang phục của phụ nữ Dao Quần Chẹt tại xã Ba Vì được mô tả trong khóa luận là gì?
Phụ nữ Dao Quần Chẹt mặc áo dài chàm xẻ tà (miền xịa lui) dắt hai vạt lên thắt lưng khi lao động, quần chàm ngắn quá gối một chút với ống quần bó sát bắp chân và góc mở đũng quần rộng 120 độ để tiện leo núi. Điểm đặc biệt là họ dùng xà cạp trắng (chì kẹo) quấn trùm ra bên ngoài gấu quần (thay vì quấn trong gấu quần như một số nhóm Dao trung du) nhằm mục đích phòng tránh vắt và gai rừng cào xước.

2. Hai bài thuốc Nam gia truyền nổi tiếng nhất đã tạo dựng thương hiệu cho người Dao xã Ba Vì là những bài thuốc nào?
Đó là bài thuốc tắm đẻ - lợi sữa dành cho phụ nữ sau sinh và bài thuốc tắm khỏe người giúp phục hồi thể lực, giảm mệt mỏi và đau nhức xương cốt.

3. Khóa luận ghi nhận thực trạng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch tại xã Ba Vì năm 2019 như thế nào?
Toàn xã Ba Vì chưa có hộ gia đình nào triển khai mô hình homestay đạt tiêu chuẩn phục vụ ăn nghỉ cho khách. Cả xã chỉ có 2 nhà nghỉ tư nhân với quy mô nhỏ, kiến trúc nhà truyền thống của người Dao còn lại rất ít, khiến điểm đến không đáp ứng được nhu cầu lưu trú của các đoàn khách đông người.

4. Trong cơ cấu các dịch vụ du lịch mà người dân thôn Yên Sơn mong muốn tham gia, hoạt động nào chiếm tỷ lệ cao nhất và thấp nhất?
Theo kết quả khảo sát 60 hộ dân, hoạt động người dân mong muốn tham gia nhiều nhất là bán hàng (chủ yếu là bán thuốc Nam) với tỷ lệ 35,0% (21 hộ). Hoạt động có tỷ lệ tham gia thấp nhất là sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ với 3,7% (2 hộ).

5. Lễ hội Tết Nhảy của người Dao ở Ba Vì diễn ra vào thời gian nào và có những nghi thức vật phẩm bắt buộc nào?
Tết Nhảy diễn ra từ giữa tháng 11 âm lịch đến ngày 25 tháng Chạp. Nghi lễ bắt buộc phải có thầy mo, bánh dày và bộ 22 bức tranh thờ Đạo giáo được khai quang; bát hương thờ cúng được chuẩn bị công phu bằng tro đốt từ gạo và các loại vỏ cây thơm xin từ 3 đến 4 dòng họ khác nhau trong bản kết hợp với vàng bạc vụn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Mỹ Linh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và làm sáng tỏ tiềm năng phát triển du lịch đặc thù của người Dao Quần Chẹt tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội. Thông qua khảo sát thực tế năm 2019, tác giả chỉ rõ thế mạnh vượt trội về tri thức thuốc Nam và văn hóa truyền thống, đồng thời nhận diện chuẩn xác các rào cản về cơ sở lưu trú homestay, trình độ nhân lực và tính liên kết dịch vụ. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn phát triển kinh tế du lịch với bảo tồn nguồn dược liệu và di sản bản địa, tạo tiền đề thực tiễn định hướng xây dựng xã Ba Vì thành điểm đến du lịch cộng đồng chăm sóc sức khỏe độc đáo của Thủ đô.