Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp nông thôn có vai trò và quan trọng trong sự nghiệp phát triển chung của mỗi quốc gia, kể cả những quốc gia đã đạt đƣợc trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo an ninh lƣơng thực, thực phẩm cho cả đất nƣớc và cũng là nơi cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm của nền kinh tế quốc dân. Việc phát triển nông nghiệp nông thôn càng trở nên quan trọng hơn đối với một nƣớc có 69,4% số dân sống bằng nghề nông nghiệp và chiếm gần 70% lao đông cả nƣớc, là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị… Việt Nam có xuất phát điểm là một nƣớc có nền nông nghiệp lâu đời, ngƣời dân Việt Nam rất quen thuộc với những hình ảnh: đồng lúa, con trâu… Chính vì vậy, trong những năm qua, nền kinh tế nông nghiệp là một trong những nền kinh tế quan trọng nhất trong nền kinh tế nƣớc ta.
Sự quan trọng của nghành nông nghiệp đƣợc thể hiện trong tƣ tƣởng chủ tịch Hồ Chí Minh: Ngay sau ngày đất nƣớc giành đƣợc độc lập, trong thƣ gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11-4-1946 hồ chí minh đã viết: “ Việt Nam là một nƣớc sống về nông nghiệp, nền kinh tế ta lấy nông nghiệp làm gốc, trong công cuộc xây dựng nƣớc nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp, một phần lớn. Nhân dân ta giàu thì nƣớc ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nƣớc ta thịnh” Trong lời kêu gọi đồng bào nhân dân thi đua sản xuất và tiết kiệm năm 1956, Ngƣời vẫn nhắc: Khôi phục sản xuất nông nghiệp là chủ yếu: “ Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp giống nhƣ trung quốc, triều tiên. Muốn phát triển n 2 công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung, phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc làm chính”. Đó cũng là quan điểm, chính sách của nhà nƣớc ta hiện nay đối với sự phát triển kinh tế đất nƣớc.
Trải qua hơn 65 năm hình thành và phát triển, từ năm 1945 đến nay với những tên gọi khác nhau ở từng thời kì cách mạng, với sự lãnh đạo của đảng, nhà nƣớc, nghành nông nghiệp việt nam đã vƣợt qua nhiều khó khăn, thử thách. Con đƣờng đi dù nhiều khó khăn, thách thức bởi mang trong mình trọng trách lớn lao, song nghành nông nghiệp ngày càng khẳng định đƣợc vị trí của mình trong nền kinh tế đất nƣớc. đặc biệt là liên tiếp trong hai thập kỉ gần đây, trƣớc những khó khăn về kinh tế, khủng hoảng kinh tế (điển hình là khủng hoảng tài chính năm 1994 và khủng hoảng lƣơng thực năm 2008) nông nghiệp luôn trở thành yếu tố quan trọng, là ƣu thế nâng đỡ và đƣợc coi là “cứu cánh” cho nền kinh tế Việt Nam. Nền nông nghiệp nƣớc ta đã và đang cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho gần 87 triệu ngƣời trên cả nƣớc và còn xuất khẩu ra thị trƣờng quốc tế.
Đặc biệt là trong những năm gần đây Việt Nam đã trở thành một trong những nƣớc xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Xây dựng các hoạt động sinh kế bền vững và xóa đói giảm nghèo là những chính sách xã hội cơ bản hƣớng vào phát triển con ngƣời, nhất là ngƣời nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, để cho ngƣời nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các nguồn lực để phát triển sản xuất tự vƣơn lên thoát khỏi nghèo đói, có một cuộc sống ổn định hơn. Tuy nhiên thực tế hiện nay, ngƣời dân nghèo còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế. Họ ít có khả năng tiếp cận với các nguồn lực nhƣ tài chính, thông tin, cơ sở vật chất.
để kiếm kế sinh nhai. n 3 Để cải thiện sinh kế cho nông dân vùng cao, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số và phụ nữ cần có sự quan tâm của Nhà nƣớc và các tổ chức xã hội, thông qua các hoạt động, thông qua hệ thống cây trồng/vật nuôi tổng hợp, phát triển sản xuất bền vững và sử dụng các cây trồng lƣơng thực, thức ăn chăn nuôi. cần đƣợc đầu tƣ cả về vốn, vật tƣ nông nghiệp, tiến bộ khoa học kỹ thuật… để phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển các hoạt động sinh kế, giúp ngƣời nông dân cải thiện cuộc sống. Qua đó ta thấy rằng sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con ngƣời.
Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con ngƣời nhƣng vẫn đáp ứng đƣợc đòi hỏi về chất lƣợng môi trƣờng tự nhiên. Xã Ngọc khê (huyện Trùng Khánh ,tỉnh Cao Bằng) là một xã miền núi , điều kiện kinh tế , xã hội còn gặp nhiều khó khăn , dân trí của ngƣời dân còn thấp, các điều kiện về cơ sở hạ tầng , giao thông khó khăn , diện tích đất canh tác ít, thiế u nƣớc,. Sinh kế của các hộ g ia đình điạ phƣơng chủ yế u dƣ̣a vào trồ ng trot,̣ bao gồ m: trồ ng lúa, ngô, chăn nuôi bao gồ m: trâu, bò, lơ ̣n, gà và vịt. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng nhƣ tìm hiểu tình hình thực trạng về các hoạt động sinh kế của ngƣời dân nơi đây sẽ là cơ sở cho việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho ngƣời dân miền núi xã Ngọc Khê nói riêng cũng nhƣ ngƣời dân trong địa bàn tỉnh Cao Bằng nói chung, làm tiền đề cho các can thiệp của dự án phát triển nông thôn, các chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế… để nâng cao đời sống cho ngƣời dân.
Với mục đích nhƣ vậy nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung n 4 Đề tài tập chung tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích thực trạng các hoạt động sinh kế và cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của ngƣời dân tại xã Ngọc Khê. Trên cơ sở đó đề xuất đƣợc các giải pháp phát triển sinh kế thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tăng thu nhập và ổn định cho ngƣời dân tại địa phƣơng.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá đƣợc điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phƣơng có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. - Nghiên cứu, đánh giá đƣợc các hoạt động sinh kế và thu nhập của cộng đồng các dân tộc địa phƣơng. - Đề xuấ t đƣợc một số giải pháp cải thiê ̣n sinh kế cô ̣ng đồ ng điạ phƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp sinh viên có cơ hội đƣợc tiếp xúc với thực tế để có thêm kinh nghiệm, bổ sung những kiến thức còn thiếu, vận dụng những kiến thức về kỹ thuật chuyên môn cũng nhƣ nghiệp vụ khuyến nông vào trong sản xuất. Ý Nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Đáp ứng mục đích ứng dụng nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn của ngƣời dân miền núi. - Đóng góp kiến nghị những giải pháp khả thi cho chiến lƣợc sinh kế của ngƣời dân miền núi xã Ngọc Khê. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế - Khái niệm sinh kế: Hiê ̣n nay có rấ t nhiề u đinh ̣ nghiã khác nhau về sinh kế. Theo mô ̣t số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội nhƣ: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nƣớc mặt, đƣờng xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phƣơng tiện để kiếm sống của con ngƣời (Scoones, 1998). Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con ngƣời , đƣợc thể hiện qua hai lĩnh vực chin ́ h là nông nghiệp và phi nông nghiê ̣p.
Hoạt đ ộng nông nghiệp bao gồm : ( 1)Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, cây ăn quả , rau màu ,…, (2) chăn nuôi : Lợn, gà, trâu, bò, cá,…, và (3) Lâm nghiệp: Trồng cây keo, bạch đàn, mỡ, rƣ̀ng,… Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ, buôn bán và các ngành nghề khác. Nhƣ vâ ̣y, trong pha ̣m vi báo cáo này , sinh kế của ngƣời dân nông thôn đƣơ ̣c hiể u là các hoa ̣t đô ̣ng sản xuấ t nông nghiê ̣p để nuôi số ng cho chiń h gia điǹ h ho ̣. Vì vậy, xây dƣ̣ng kế hoa ̣ch chiế n lƣơ ̣c cải thiê ̣n sinh kế chiń h là viê ̣c xây dƣ̣ng các thí nghiê ̣m triǹ h diễn hiê ̣n trƣờng để góp phầ n cải thiê ̣n sinh kế điạ phƣơng. Qua đó góp phầ n phát triể n kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
- Tiếp cận sinh kế: Tiếp cận sinh kế là khái niệm tƣơng đối mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của ngƣời dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phƣơng thúc truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn nhƣ nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng n 6 đồng cũng nhƣ những ngƣời hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi với điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo. - Khung sinh kế: Có nhiều khái niệm về sinh kế nhƣ sau: + Sinh kế là sự kết hợp các hoạt động đƣợc thực hiện để sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống. Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con ngƣời), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính, và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động đƣợc diễn ra (nguồn lực xã hội).
+ Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đƣờng xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống. + Sinh kế của con ngƣời phụ thuộc vào khối lƣợng và chất lƣợng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận. Sự thành công của các chiến lƣợc và hoạt động sinh kế tùy thuộc và mức độ hiểu biết mà con ngƣời có thể kết hợp cũng nhƣ quản lý những nguồn lực mà họ có.