CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn 1.1 Khái niệm về hệ sinh thái rừng ngập mặn Rừng ngập mặn bao gồm các loại cây sống trong khu vực nước mặn ở ven biển cũng như ở trong vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hệ sinh thái rừng ngập mặn được hình thành bởi nhiều yếu tố như động vật, thực vật và một số loại sinh vật khác.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn không chỉ là nguồn cung cấp oxy mà còn giúp điều hòa không khí, đây là một trong những lá chắn giúp phòng hộ ven biển và phòng tránh được sự bào mòn của nước biển. Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển có vai trò trong việc mở rộng đất đai, bồi tụ và tạo vùng đất mới và là nơi trú chân của nhiều loài động vật. Đối với con người, rừng ngập mặn là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người nhiều loại nhiên liệu, thức ăn, thu hút nhiều khách du lịch tới thăm quan và khám về rừng ngập mặn,.2 Quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới và tại Việt Nam a. Trên thế giới Hiện nay RNM phân bố trên khoảng 123 Quốc gia và vùng lãnh thổ, với diện tích 150.000 km2, trong đó lớn nhất là Indonexia 21%; Braxin 9%, Úc 7%[10].bất chấp những nỗ lực phục hồi ở một số nước thì diện tích RNM vẫn đang mất dần với tốc độ gấp 3 - 4 lần so với rừng trên đất liền (35.500 km2 diện tích RNM trên thế giới bao gồm cả đất liền và ngoài biển đã bị mất từ năm 1980).
Trong 3 thập kỷ qua, có đến 1/5 RNM của thế giới đã biến mất, mặc dù tốc độ phá RNM đã giảm 0,7% hàng năm. Nguy cơ tiếp tục nuôi tôm ồ ạt và phá hủy cảnh quan ven biển thì có thể gây ra sự đe dọa về kinh tế cũng như môi trường sinh thái. Nghiên cứu ước lượng mỗi hecta RNM sẽ tạo ra nguồn thu từ 2000 - 9000 USD nhiều hơn so với lợi nhuận từ việc nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và du lịch. Đây là nguyên nhân khiến liên hợp quốc lo ngại RNM biến mất ngày càng nhiều [10].
Liên Hiệp Quốc ước tính các loài ngập mặn liên quan đến 30% tổng thu nhập ngành đánh bắt cá và gần 100% của ngành đánh bắt tôm ở Đông Nam Á. RNM và các loài liên quan tại Queensland (Úc) được cho là tạo nên 75% thu nhập ngành thủy sản thương mại. Khía cạnh lâm nghiệp của RNM cũng rất quan trọng về kinh tế. Cây thân gỗ mọc dày đặc, khả năng chống thấm và mối mọt cao.
"Điều hiếm có là nó cho năng suất cao nên bạn có thể thu hoạch quay vòng liên tục"[10]. Như vậy có thể thấy rằng, HST RNM trên thế giới phân bố không đồng đều, những nơi tập trung nhiều RNM thường có khí hậu và địa hình thuận lợi. Tốc độ suy thoái RNM cũng khác nhau tại các nơi trên thế giới và nguyên nhân chủ yếu vẫn là do quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và những hoạt động xâm hại từ con người. Những tổ chức về môi trường và HST trên thế giới cũng đang rất nỗ lực trong việc bảo vệ và ngăn chặn sự suy thoái RMN.
Tuy nhiên để phát triển và sử 5 dụng bền vững HST RNM cần có sự chung tay của cả cộng đồng cũng như ý thức, trách nhiệm của mỗi con người trên trái đất này. Tại Việt Nam Trên thực tế việc quản lý rừng nói chung và RNM nói riêng ở Việt Nam hiện nay đang có 4 mô hình quản lý chủ yếu là: - Mô hình “Rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống, được pháp luật công nhận”. Hình thức quản lý này đã có từ lâu đời, tuy nhiên đến năm 1991, khi ban hành luật Bảo vệ và phát triển rừng thì một số khu rừng quản lý theo hình thức này mới được công nhận thuộc quyền sở hữu của người dân, đối với hình thức quản lý này thì cộng đồng có trách nhiệm quản lý và hưởng lợi theo truyền thống đã có từ trước đây. - Mô hình “Cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ cho các chủ rừng nhà nước”.
Đây là hình thức cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng theo nhiều hình thức khác nhau như: Theo hộ gia đình, nhóm đồng sở thích hoặc toàn bộ cộng đồng dân cư thôn bản. Tuy nhiên, hình thức này thì cộng đồng dân cư chỉ là người làm thuê cho các chủ rừng nhà nước, với thù lao ít ỏi, không được hưởng lợi gì đáng kể từ rừng, nên trách nhiệm, tính tích cực của họ trong việc bảo vệ và quản lý rừng cũng không cao. - Mô hình “Rừng và đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương (cấp tỉnh) giao cho cộng đồng dân cư quản lý”. Đây là mô hình quản lý bước đầu mang lại hiệu quả nhất định, hiện nay ở nhiều tỉnh (nhất là các tỉnh đang có các dự án hợp tác với nước ngoài về lâm nghiệp xã hội/lâm nghiệp cộng đồng) đã thí điểm thực hiện mô hình này bằng cách giao đến cộng đồng dân cư một số diện tích rừng và hướng dẫn họ quản lý, có những chính sách họ hưởng lợi cụ thể từ rừng, từ đó cộng đồng dân cư nhận thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong quản lý rừng.
- Mô hình “Cộng đồng dân cư và nhà nước cùng quản lý rừng”. Đây còn gọi là mô hình đồng quản lý, mô hình đã mang lại những hiệu quả nhất định. Đồng quản lý là kiểm tra, đánh giá khả năng của các hoạt động và quá trình phát triển nông thôn để đưa ra các lựa chọn và kịch bản (tính nhất quán về tri thức) khi giải quyết với sự diễn giải còn bất đồng và sự thay đổi liên tục trong chức năng của chúng hướng tới [11]. Đồng quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên là một thỏa thuận đối tác trong đó nhóm người sử dụng tài nguyên có quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên trên đất chủ sở hữu của nhà nước (khu vực đã xác định) đồng thời có trách nhiệm quản lý bền vững tài nguyên (gồm bảo vệ).
Người sử dụng tài nguyên và các chính quyền địa phương cùng nhau đàm phán thỏa thuận đối tượng nào thể làm gì, ở đâu, khi nào, bằng cách nào và mất bao nhiêu trên một diện tích tài nguyên cụ thể được thực hiện và giám sát bởi chính những người sử dụng tài nguyên. Đồng quản lý là một biện pháp hiệu quả để duy trì và tăng cường chức năng phòng hộ của đai RNM và đồng thời cung cấp sinh kế cho các cộng đồng địa phương. Việc tăng cường chức năng phòng hộ của RNM có ý nghĩa rất quan trọng cho vùng duyên hải bởi những tác động tiêu cực có thể gây ra do biến đổi khí hậu. Vai trò của du lịch cộng đồng đối với quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn 1.1 Khái niệm về du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng (Community-based tourism) được xuất hiện từ những năm 1970 và cho đến nay đã phát triển phổ biến ở hầu hết các Châu lục, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở hầu hết các Quốc gia trên thế giới.
Theo Rozemeijer định nghĩa du lịch cộng đồng là "Hoạt động du lịch được sở hữu, khởi xướng bằng một hay vài cộng đồng địa phương, có sự liên kết với khối tư nhân nhằm tận dụng nguồn tài nguyên tự nhiên cũng như văn hóa một cách bền vững để thu hút khách du lịch, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế" [23].C cho rằng, du lịch cộng đồng chủ yếu là " Loại hình du lịch ở quy mô nhỏ và song hành hướng đến cả mục đích phát triển kinh tế và phát triển xã hội" [18]. Như vậy có thể thấy khái niệm về du lịch cộng đồng có nhiều có nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào tác giả và lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên, điểm chung nhất là phát triển du lịch cộng đồng là theo hướng bền vững, có sự tham gia và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Có thể thấy, sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương là điều kiện tiên quyết, là bản sắc tạo ra sự khác biệt với các loại hình du lịch khác.
Phát triển du lịch cộng đồng là một trong nhưng giải pháp theo hướng bền vững, có sự tham gia và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương giúp góp phần bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị tài nguyên du lịch. Mô hình du lịch cộng đồng trên thế giới 1.1 Một số mô hình phân tích các bên liên quan trong mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái a. Mô hình khung khái niệm về sự phát triển bền vũng ở vùng Jaunasar- Bawar của Uttarakhand. Jaunsar-Bawar là khu vực có phong cảnh đẹp nằm trên dãy núi Himalaya, tạo thành nửa phía bắc của quận Dehradun thuộc bang Uttarakhand.Tài nguyên du lịch ở vùng Jaunsar-Bawar khá phong phú và có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch ở vùng miền, quốc gia.
Dựa trên hiện trạng du lịch sinh thái ở Jaunsar- Bawar và các vấn đề hiện có, mô hình đã đưa ra chuỗi giá trị để thúc đẩy tiềm năng phát triển và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở các vùng Jaunsar-Bawar.1: MH theo chuỗi giá trị ở vùng Jaunasar-Bawar của Uttarakhand, năm 2016.[24] 7 Nhận xét về mô hình: Xác định các bên liên quan chính và tiềm năng như cộng đồng địa phương, công ty điều hành tour du lịch, khách sạn, nhà hàng, tổ chức bảo tồn và đa dạng sinh học địa phương, tổ chức phát triển cộng đồng, Tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển du lịch của Nhà nước và chính quyền địa phương là rất quan trọng trong mô hình du lịch cộng đồng. Mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng và tổ chức sẽ có những vai trò khác nhau trong quảng bá phát triển du lịch cộng đồng. Khi các bên liên quan chính của du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được xác định, nhóm công tác phải thu hút các bên liên quan khác nhau dựa trên mức độ đầu vào và vai trò tiềm năng của họ trong phát triển du lịch cộng đồng bền vững trong tương lai. Tuy nhiên, mô hình chưa nêu được cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan để vận hành được mô hình.
Mô hình tính bền vững của phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở tỉnh Phuket, Thái Lan Phuket là hòn đảo lớn nhất của Thái Lan, nó được công nhận là một trong những điểm đến hàng đầu của Thái Lan.