Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm Bảo tồn và Phát huy - Bảo tồn Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ cho còn: bảo tồn danh giá, bảo tồn cổ vật” [41, tr. 63],còn trong Đại từ điển Việt Nam: “Bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không thể mất đi” [63, tr.
Tác giả Nguyễn Thịnh Trong công trình “Di sản văn hóa Việt Nam – bản sắc và những vấn đề quản lý và bảo tồn” cho rằng: “Bảo tồn là những nổ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ những giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết” [58, tr. Theo tác giả Nguyễn Như Ý nhận định: “Bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc” [64, tr. Hay cũng có thể ngắn gọn, súc tích như tác giả Đào Duy Anh đưa ra: “Bảo tồn là giữ gìn lại” [1, tr. Việc bảo tồn các giá trị lễ hội là những hoạt động diễn ra thường xuyên nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài, ổn định của lễ hội trong đời sống cộng đồng, để cho cái hay cái đẹp thông qua lễ hội lan tỏa làm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của thế hệ hôm nay và cả mai sau.
- Phát huy Đi đôi với thuật ngữ “Bảo tồn” là thuật ngữ “phát huy ”. Đây cũng là hai nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong công tác giữ gìn các giá trị văn hóa phi vật thể. Theo Từ điển Tiếng Việt: Phát huy được hiểu “là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [41, tr. Tác giả Võ Quang Trọng Bảo cho rằng:“Phát huy có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong việc thực hiện xã hội, coi đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp 17 phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội” [4, tr.
Chúng ta rất dễ liên tưởng đến thuật ngữ “phát triển” khi nhắc đến “phát huy” nhưng phát triển trong Đại từ điển Việt Nam: “Phát triển là vận động, tiến triển theo hướng tăng lên” [63, tr. Việc phát huy các giá trị lễ hội nói riêng và di sản văn hóa phi vật thể nói chung nhằm mục đích phát triển những giá trị văn hóa truyền thống hiệu quả, bền vững. Bởi lẽ, văn hóa phi vật thể không chỉ là tài sản vô giá của cộng đồng mà còn là tài sản chung của cả dân tộc, quốc gia, và nhân loại. Vì vậy, phát huy những giá trị di sản văn hóa phi vật thể là nhiệm vụ chung của toàn cộng đồng cùng chung tay góp sức để phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Khái niệm giá trị Theo J.Fichter nhà xã hội học hiện đại Mỹ, khái niệm giá trị được diễn giải: “Chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm người đều là một giá trị” [14, tr. Tác giả Ngô Đức Thịnh: “Giá trị là quan niệm về cái có ý nghĩa, được cộng đồng xã hội lựa chọn, cùng nhau chia sẽ và tôn vinh. Đối với mỗi thành viên trong nhóm, giá trị là cái đáng ước ao và khi đạt được sẽ bùng nổ sự thăng hoa tinh thần. Chính cì vậy thực thi giá trị có tác dụng điều tiết đối với hoạt động của con người, tìm hiểu giá trị có giá trị giúp ta tiếp cận các động lực ẩn tàng trong đời sống xã hội” [54, tr.
Có thể nói “Giá trị” là thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy vào góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu. Xem xét thuật ngữ này từ góc độ triết học văn hóa, trong cuốn Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập 2), xuất bản năm 1995 cho rằng giá trị “Là phạm trù triết học xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người” [20, tr. 18 Khác với các nhà triết học, các nhà khoa học xã hội xem giá trị là “Những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổn phận, những trách nhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn và nhiều hình thái khác của định hướng lựa chọn. Giá trị mà cái ta cho là đáng có, mà ta thích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta.
Giá trị là sự đánh giá trên quan điểm cá nhân, vì vậy, giá trị của sự vật, hiện tượng không giống nhau ở từng cá nhân khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những giá trị trong nhiều nền văn hóa khác nhau đều thừa nhận và có xu hướng trường tồn như tự do, bình đẳng, bác ái, hạnh phúc…” [46, tr. Như vậy giá trị lễ hội có thể hiểu là những yếu tố có ích cho mọi người, cho cộng đồng, dân tộc được cộng đồng lựa chọn. Nhờ vai trò, tính hữu ích, ý nghĩa tinh thần mà giá trị lễ hội được xã hội thừa nhận và tôn vinh.
Khái niệm lễ hội Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống được phổ biến trên đất nước Việt Nam ta:“Theo thống kê bước đầu, 54 dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đã có trên 6000 lễ hội khác nhau” [27, tr. Hiện nay, khái niệm về lễ hội có rất nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau dưới nhiều quan điểm và cách tiếp cận của mỗi học giả, nhà nghiên cứu. Một số tác giả có xu hướng là phân tách “Lễ hội” ra thành hai thành tố khác nhau trong cấu trúc gồm:“Lễ” và “Hội”. Cả hai khái niệm “Lễ” và “Hội” đều là gốc Hán, được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục [19, tr.
Lễ là khái niệm đạo đức của Nho học Khổng - Mạnh, nghĩa ban đầu là lễ nghi, phép tắc, dần về sau có thêm nghĩa phát sinh là hình thức cúng khấn cầu thần ban phúc [35, tr. 461] còn hội là cuộc vui chung được tổ chức cho đông đảo người tham dự [34, tr. 19 Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì lễ bao gồm cách bày tỏ kính ý, chữ Lễ thường đi với các từ sau: lễ bái – tế thần, lễ nghi, lễ tục, lễ vật, lễ tiết, lễ nhạc; hội có nghĩa là họp nhau, cơ quan nhiều người họp để làm việc, gặp, xử lý gặp nhau, sự tình gặp nhau.Chữ “Hội” thường gắn với: hội ẩm, hội binh, hội thực, hội nghị… [1, tr. Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) cho rằng: “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng…lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo” [39, tr. Hay “Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội, lịch sử quan trọng của dân tộc” [37, tr. Tác giả Bùi Hoài Sơn cho rằng: “Lễ hội là một hiện tượng xã hội tổng thể, trong đó, một số các đặc trưng chủ yếu như: là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng - tâm linh; là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương; là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng; là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác; là dịp tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi giải trí, thể thao; là địa điểm hành hương, du lịch. Tất cả những đặc trưng trên của lễ hội truyền thống nói chung, lễ hội truyền thống của người Việt nói riêng đều gắn với một đặc điểm là: lễ hội là một sản phẩm của quá khứ, được gìn giữ cho hiện tại và mai sau, và nhìn chung, mọi người đều thống nhất với nhau rằng lễ hội truyền thống là di sản văn hóa cộng đồng người Việt, nói cụ thể hơn là các cộng đồng làng” [47, tr.
Nhưng trên thực tế hầu hết những sinh hoạt văn hóa dân gian đa phần là thiên về “lễ” mà không chú trọng phần “hội” hoặc là thiên về phần hội mà không chú trọng phần lễ. Lễ và Hội có những đặc điểm và tính chất riêng, 20 phân tách là một cách thức để tìm hiểu những đặc trưng về bản chất của từng thành tố. Tuy nhiên, “lễ” và “hội” là hai yếu tố không tách rời nhau. Nhà nghiên cứu Thu Linh viết:“Lễ (cuộc lễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lễ trong các dịp này trở thành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một cách nghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình đột một “cảnh diễn hóa” cùng với không khí trang nghiêm đóng vai trò chủ đạo.
Đây chính là điểm giao thoa của lễ với hội, và có lẽ cũng vì vậy người ta thường nhập hai từ thành lễ hội” [29, tr. Theo tác giả Đinh Gia Khánh:“Đặc điểm cơ bản của văn hóa dân gian (trong đó có lễ hội) là tính nguyên hợp…tức nói rằng qua nghệ thuật ấy người ta nhận thức về hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt” [27, tr. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh: “Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh – lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phát sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong lễ hội phần lễ gốc chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp” [53, tr.Tính biện chứng của quan điểm trên là cách nhìn nhận lễ hội từ sự hình thành nhu cầu niềm tin của cộng đồng, được biểu hiện cụ thể thông qua các lễ nghi để tôn thờ các vị thần linh của cộng đồng,là cơ sở để nảy sinh và tích hợp các sinh hoạt văn hóa, tạo nên hiện tượng tổng thể của lễ hội.