CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DIỄN GIẢI MOI TRUONG TRONG PHAT TRIEN DU LICH SINH THÁI O CAC VUON QUOC GIA, KHU BAO TON THIEN NHIEN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Diễn giải môi trường trong du lịch sinh thái Diễn giải là thuật ngữ được đề cập trong nhiều nghiên cứu trên thế giới. Trong đó, Tilden đã định nghĩa diễn giải là một hoạt động giáo dục nhằm mục đích bộc lộ ý nghĩa và mối quan hệ thông qua việc sử dụng các đối tượng, bằng kinh nghiệm và băng các phương tiện minh hoạ, thay vì chỉ truyền đạt thông tin thực tế (Tilden, 1957).
Cuốn sách của Tilden ra đời nhằm hỗ trợ các hướng dẫn viên trong thực hành của họ bang cách xác định các nguyên tắc và phương pháp dé hỗ trợ tạo ra sự kết nối cho du khách với di sản văn hoá. Định nghĩa của Tilden là nền tang cho các nghiên cứu về diễn giải và sau này được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong những năm 1960 và 1970, diễn giải tập trung vào lĩnh vực sinh thái và môi trường. Trong khoảng thời gian này, dién giải môi trường đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực diễn giải (Kye, 2005) và các định nghĩa về diễn giải khác nhau giữa các học giả.
Risk (1994) đưa ra quan điểm rằng "diễn giải môi trường giúp chuyên ngôn ngữ môi trường chuyên nghiệp và phức tạp hơn sang ngôn ngữ không chuyên nghiệp, nhăm mục đích cho phép du khách phát triển sự nhạy cảm với môi trường, nhận thức về môi trường, đánh giá cao tài nguyên và cam kết môi trường". Ngoài các định nghĩa khác nhau do các học giả đưa ra, một số tô chức phiên dịch nồi tiếng cũng định nghĩa cách diễn giải. Theo Interpret Europe (2014), diễn giải là một hoạt động giáo dục không chính thức nhằm cung cấp cho du khách mục tiêu cái nhìn sâu sắc và hiểu biết mới. Hiệp hội Diễn giải Quốc tế (NAI, 2014) cho rằng diễn giải là một quá trình giao tiếp dựa trên nhiệm vụ nhằm xây dựng mối liên hệ về tình cảm và nhận thức giữa sở thích của khán giả và ý nghĩa vốn có của các nguồn tài liệu.
Tổ chức Diễn giải Australia (2014) coi việc diễn giải là sự giao tiếp giữa suy nghĩ và cảm xúc để giúp mọi người hiểu biết hơn về bản thân và môi trường nơi họ sống. Hiệp hội Diễn giải Di sản (2014) cho rằng việc diễn giải làm phong phú thêm cuộc sông của con người thông qua việc thúc đây cảm xúc của họ, nâng cao trải nghiệm 12 của họ, hiểu biết sâu sắc hơn về địa điểm, con người va sự kiện cũng như đồ vật. Nói chung, việc diễn giải có thể được xem để cung cấp thông tin cho khán giả không bị giam cầm trong các bảo tàng, vườn thú, khu di sản văn hóa, công viên và các cộng sự thông qua các phương tiện giao tiếp, động lực và giải trí và các cộng sự. Các nhà nghiên cứu có thé đặt tên cho diễn giải là diễn giải môi trường, diễn giải đi sản, diễn giải bao tang, dién giải du lich dựa trên các dia điểm nghiên cứu đã chọn của họ.
Mặc dù có thể sử dụng các thuật ngữ khác nhau, nhưng bản chất của việc diễn giải vẫn giống nhau. Ham (1992) đã đưa ra quan điềm cho rằng, diễn giải chỉ đơn giải là một cách tiếp cận dé giao tiếp. Ở một góc độ nào đó thì diễn giải được coi như là phiên dich (translating). Diễn giải môi trường liên quan đến việc diễn dịch các giá trị của tự nhiên và các yêu tố liên quan cung cấp cho người không phải là nhà khoa học có thê dễ dàng hiểu được.
Ham đã ủng hộ quan điểm về diễn giải của Tilden, tuy nhiên Ham cũng nhận định rằng quan điểm của Tilden coi diễn giải là một cách tiếp cận dé giao tiếp, nhân mạnh đến việc chuyền giao các ý tưởng và các mối quan hệ hơn là các sự kiện và số liệu. Do vậy, Ham tập trung vào trình bay diễn giải sự kiện nhằm mục dich dé khán giả hiểu (Ham, 1992). Ham đã phát triển một mô hình gọi là mô hình EROT tập trung vào phong cách diễn giải và nội dung của nó, trong đó nói rằng, dé có hiệu quả, việc giải thích cần phải giải quyết bốn thành phần. Thứ nhất, nó cần phải thú vị để mọi người cần có động lực tham gia vào việc giải thích.
Thứ hai, nó cần phải phủ hợp với du khách; đó là cung cấp những câu chuyện và khái niệm dé mọi người có thê kết nối với công viên thông qua trải nghiệm của chính họ. Ở đây, vai trò của các câu chuyện và phép ân dụ là rất quan trọng. Thứ ba, nó cần được tô chức và cung cấp một cau trúc rõ rang dé hướng dẫn du khách thông qua chương trình. Cuối cùng, việc diễn giải cần phải có chủ đề và cung cấp một thông điệp mà du khách sẽ nhớ sau chuyến thăm của họ.
Kế thừa những quan điểm của Ham (1992), Ham & Weiler (2000) đã phát triển và đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về diễn giải. Theo đó, diễn giải nằm trong trái tim và tâm hồn của bat kỳ hướng dẫn viên du lịch giỏi nào có thé và nên làm bang chứng 13 đã chỉ ra rằng việc giải thích chất lượng có thé nâng cao sự hai lòng của khách du lich và thông qua đó có thê đóng góp vào khả năng thương mại của các hoạt động du lịch. Quan điểm của Tilden (1957) hay Ham (1992) coi diễn giải mang tính chất là một hoạt động giáo dục. Phát triển quan điểm đó Beck & Cable (201 1) đã đưa ra quan điểm về diễn giải là một hoạt động giáo dục thé hiện ý nghĩa về tài nguyên thiên nhiên thông qua nhiều phương tiện khác nhau.
Nhóm tác giả này đã đưa ra 15 cách thức diễn giải về thiên nhiên và văn hoá. Thông qua các cách thức và phương tiện khác nhau bao gồm các cuộc nói chuyện, các chuyến tham quan có hướng dẫn và các hoạt động diễn giải dé cho khách du lịch có thêm hiểu biết, hài lòng hơn về các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá. Tuy nhiên, quan điểm của Townsend (2008), cho rằng diễn giải và giáo dục môi trường là các lĩnh vực riêng biệt, chúng đều được sử dụng dé mô tả quá trình cung cấp thông tin liên quan đến môi trường cho khách du lịch. Cả diễn giải và giáo dục môi trường nhằm mục đích nâng cao trải nghiệm cho khách du lịch tại một điểm đến nào đó.
Diễn giải và giáo dục môi trường có thê giúp các nhà quản lý môi trường và doanh nghiệp đạt được các mục tiêu như: (1) Giảm thiêu tác động trực tiếp của khách du lịch đến các khu vực san hô, động vật hoang dã, (2) Tăng sự thích thú và hiéu biết của khách du lịch với môi trường biển, nâng cao các kỹ năng, trải nghiệm, (3) Giảm thiểu các tác động đến môi trường biển trong các chuyến đi của họ (như mua sắm đồ lưu niệm từ san hô,.), (4) Tăng cường cam kết của khách du lịch đến việc bao tồn biển. Moscardo và cộng sự (2004) đã nghiên cứu về vai trò của diễn giải môi trường trong du lịch thăm động vật hoang dã. Nhóm tác giả này cho rằng diễn giải nhằm mục đích kích thích sự quan tâm, thúc đây sự học hỏi, hướng dẫn cho du khách các hành vi phù hợp với du lịch bền vững và khuyến khích sự tận hưởng và thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch. Theo đó, diễn giải môi trường có ba vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch thăm động vật hoang dã như hỗ trợ công tác quản lý, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo tồn và nâng cao trải nghiệm cho du khách.
Moscardo và cộng sự cũng đưa ra mô tả việc diễn giải là quá trình truyền đạt cho mọi người về tam quan 14 trọng của một địa điểm hoặc đồ vật dé họ thích thú hơn, hiểu hơn về di sản của minh và môi trường tốt hơn và phát triển một thái độ tích cực đối với việc bao ton. Trong Câm nang diễn giải môi trường với du khách tại các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam (2009), đã hướng dẫn cụ thể về việc diễn giải môi trường với khách du lịch đến các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong đó, diễn giải môi trường là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000. Diễn giải môi trường là hoạt động diễn giải về lĩnh vực môi trường, bao gồm cả các yếu tô hữu sinh và vô sinh, trong đó có con người. Cuốn cẩm nang đã chỉ ra mục tiêu, của hoạt động diễn giải, trong đó mục tiêu của hoạt động này là: đánh thức tình cảm và sự quan tầm đến môi trường, thiên nhiên, học ngạc nhiên, củng cố nhận thức, nâng cao ý thức, truyền đạt kiến thức, xác định giá trị, khuyến khích các hành vi có trách nhiệm với thiên nhiên và môi trường, hướng tới sử dụng bền vững, tạo nhu cầu thăm vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên.
Ngoài ra, đối tượng mà hoạt động diễn giải hướng tới là khán giải bắt buộc và không bắt buộc, mà khách du lịch là đối tượng chính trong hoạt động diễn giải. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác nhau về diễn giải môi trường và hiệu quả của nó đòi hỏi phải nghiên cứu thêm (Coghlan & Carter, 2020), vì những loại trải nghiệm này rất phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố hình thành nên sự thành công hay thất bại của chúng (Powell và cộng sự, 2009). Diễn giải môi trường và du lịch sinh thái có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Du lịch sinh thái là một hình thức du lịch khá mới mẻ mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang tham gia.
Diễn giải môi trường là một hình thức giáo dục "rèn luyện cảm xúc và kết nói trí tuệ giữa lợi ích của khán giả và ý nghĩa vốn có trong tài nguyên”. Diễn giải và du lịch sinh thái có thể được thực hành cùng nhau như một cách dé: bảo ton và nghiên cứu khoa học, bảo vệ các hệ sinh thái mong manh và nguyên sơ, mang lai lợi ich cho nông thôn cộng đồng, thúc đây phát triển ở các nước nghèo, tăng cường sinh thái và văn hóa nhạy cảm và thấm nhuan nhận thức về môi trường. Tại Mỹ với hệ thống vườn quốc gia đã rất phát triển hệ thống diễn giải môi trường với các nguyên tắc du lịch sinh thái bắt đầu xuất hiện. Costa Rica là một quốc gia phát triển du lịch sinh thái, trong khi vẫn phát triển các phương pháp diễn giải hiệu quả trên toàn hệ thông công viên.