Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu; - Chương 2: Các yếu tô thành tạo và đặc điểm phân hoá cảnh quan Vườn Quốc gia Cát Bà; - Chương 3: Đánh giá dịch vụ cảnh quan và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên bền vững Vườn Quốc gia Cát Bà. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Hướng nghiên cứu, quản lý bền vững VOG Mục tiêu quản lý rừng bền vững đặt ra nhằm đảm bảo sử dụng và bảo tồn tài nguyên rừng một cách cân bằng giữa việc đáp ứng nhu cầu của kinh tế và xã hội ngày càng tăng, và việc duy trì sức khoẻ, tính ôn định của hệ sinh thái rừng.
Trọng tâm của quản lý rừng bền vững bao gồm: bảo vệ và duy trì sự phong phú của các loài cây, động vật, cũng như các loại vi sinh vật trong rừng, đảm bảo rằng việc khai thác gỗ và các sản phẩm rừng khác được thực hiện một cách có trách nhiệm, không làm ton thương qua mức lâm san, tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường, khôi phục cảnh quan, duy trì các chuỗi thức ăn và quy trình sinh thái tự nhiên trong rừng. Quản lý rừng bền vững mang lại nhiều giá trị như đóng vai trò trong việc giữ nước và kiêm soát lũ, giảm thiểu rủi ro lũ quét và lũ lụt; không những thé còn góp phần cung cấp môi trường sống cho nhiều loài cây, động vật và sinh vật đảm bảo sự tái tạo và bền vững. Bên cạnh đó, quản lý rừng bền vững còn rất nhiều thách thức như sức ép kinh tế, biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sinh thái và sự đa dang sinh học, sự mở rộng đất nông nghiệp và đô thị hoá dẫn đến xâm lat và mat mát rừng, và quan trọng nhất là khả năng quản lý yếu sẽ làm giảm hiệu quả của các biện pháp quản lý rừng bền vững. Tuy nhiên, hiện nay tính bền vững phải đối mặt với tình trạng phá rừng đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường và kinh tế toàn cầu, chăng hạn như biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh học.
Theo IPCC năm 2014, phát thải từ các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất đóng góp tới 1/4 tổng lượng phát thải khí nhà kính, dẫn đến phá rừng và phát thải nông nghiệp do quản lý đất và chất dinh dưỡng và chăn nuôi. Diện tích rừng trên thế giới là 4,128 triệu ha vào năm 1990, nhưng con số này đã giảm xuống còn 4,059 triệu ha vào năm 2020, theo FAO vào năm 2020, dẫn đến với tỷ lệ lỗ ròng hàng năm là 0,13%. Một số sáng kiến đã được thực hiện để ngăn chặn mất rừng và thúc đây quản lý rừng bền vững, như Diễn đàn Rừng của Liên hợp quốc, các chiến lược quốc gia nhằm giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng, các biện pháp, quản lý rừng bền vững, sáng kiến bảo tồn trữ lượng các-bon rừng (REDD+), các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) và Tiến trình Montreal. Theo Watson và nnk.
(2014), các khu bao tồn (KBT) đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn ĐDSH và HST. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng quản lý hiệu quả các KBT thiên nhiên có thể là một cách tiếp cận hiệu quả để bảo tồn DDSH (Xu., 2020), giúp các KBT trở thành công cụ giúp đạt được các Mục tiêu 10 ĐDSH và Mục tiêu PTBV của Aichi (Lucas. Hơn nữa, các KBT rất quan trọng trong việc giúp các quốc gia đạt được sự hạn chế đối với suy thoái đất (Cowie. Vì nhiều KBT nằm trong cảnh quan rừng nên việc giám sát các chức năng của chúng là điều cần thiết để ngăn chặn sự xuống cấp, thu hẹp quy mô và sự phá hủy (Espiner.
VQG là không gian trọng yêu dé bảo tồn và phát triển các HST rừng, các nguồn gen DDSH đặc biệt quý hiếm. Vi vậy, cần ưu tiên đánh giá thực trạng và tìm giải pháp dé phát huy tiềm năng, thế mạnh, đa công dụng và giá trị của VQG. Dé bảo vệ và sử dụng bền vững giá trị của VQG, ưu tiên hàng đầu là bảo vệ diện tích rừng trong vùng. Việc bảo vệ rừng không nhất thiết phải đóng cửa rừng hoàn toàn mà cần có cách tiếp cận hài hòa, đồng bộ như nhiều nước đã thực hiện.
Cách hiệu quả nhất dé bảo tôn, quản lý và bảo vệ rừng là thông qua các nỗ lực hợp tác và bảo tồn. Tuy nhiên, việc mở cửa rừng cần đi kèm với các quy định cần thiết để ngăn chặn mọi hành vi xâm hại đến rừng. Đảo Dinagat, ở phía đông bac Mindanao, nổi tiếng với trầm tích siêu mafic và mỏ cromit, giống như nhiều khu vực khác tại Philippines. Đảo này cũng là nguồn khoáng sản phù sa nhóm bạch kim và là quê hương của nhiều loài động thực vật độc đáo.
Tuy nhiên, Indonesia đang đối mặt với mối đe dọa lớn đối với ĐDSH và HST, đặc biệt là ở phía đông, nơi có rừng mưa nhiệt đới trên đá vôi, vấn đề chưa được giải quyết trong các sáng kiến REDD+. Phá rừng và suy thoái rừng ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Indonesia, đang diễn ra với tốc độ lo ngại, gây mất mát đáng kề cho DDSH và các dịch vụ HST. Nghiên cứu cách các cộng đồng và môi trường trong quá khứ phản ứng với lũ lụt ven biên có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách tăng cường khả năng phục hồi đối với mực nước biển dâng trong tương lai. Các đường bờ biển rộng lớn của Đông NamA và sự gia tăng dân số ven biển gây ra những rủi ro đáng ké do mực nước biển dâng trong tương lai, gây nguy hiểm cho cả con người và tài nguyên thiên nhiên.
Rừng trong khu vực cung cấp nhiều dịch vụ HST có thể giúp giảm thiểu những rủi ro này, nhưng chúng đang bị đe doa và suy yếu do nạn phá rừng. Hiện nay, nước ta có 34 vườn quốc gia đã được Chính phủ công nhận với tổng diện tích khoảng 10.455,74 km2, trong đó có 8 vườn ven biến và hải đảo. Các VQG này là Bái Tử Long, Cát Ba, Núi Chúa, Mũi Ca Mau, U Minh Ha, U Minh Thượng, Phú Quốc và Côn Đảo, với diện tích mặt bién là 620,10 km2, chiếm khoảng 3% diện tích đất liền. Các VQG nằm ven biển và trên các đảo này đã, đang và sẽ tiếp tục là những khu vực có giá trị cao về bảo tồn sinh thái và phat trién KT-XH bền vững của vùng, miền và cả nước.
II Rừng và lâm sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng và sinh kế cho người dân Việt Nam (Đang và Tran. Ở VQG Cát Tiên, hơn 100 loài thực vật được khai thác dé tiêu thụ hàng ngày va ban (Dinh et al., 2012), trong khi người Hmong ở vùng Tây Bắc sử dụng ít nhất 249 loài thực vật cỡ trung bình dé làm thực phẩm, thuốc và tạo thu nhập (Dao và Holscher. Ở đồng bang sông Cửu Long và Tây Nguyên, các loại rau dại được thu hoạch từ rừng là nguồn cung cấp vi chất dinh dưỡng quan trọng, đặc biệt là caroten, vitamin C và canx1 cho phụ nữ ở những vùng nay (Britta et al. Việc thu hái va bán lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như măng, cỏ chổi, rau dai đã giúp người dân khắc phục tình trạng thiếu lương thực ở nhiều vùng của Việt Nam (Jakobsen.
Vùng cao phía bắc Việt Nam đang chứng kiến một thị trường hàng hóa phát triển nhanh chóng cho nhiều loại lâm sản đặc biệt, trong đó có thảo quả (Amomum aromaum), loại thảo quả đã trở thành nguồn thu nhập đáng ké cho nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số trong vùng (Tugault-Lafleur. Trong nhiều năm qua, các VQG ven biển và hải đảo cùng với các VQG khác của Việt Nam đã là động lực thúc đây phát triển KT-XH, tạo công ăn việc làm, góp phan quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Những khu rừng này đã được khai thác du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho địa phương. Hơn nữa, các chiến dịch giáo dục va nâng cao nhận thức là rất cần thiết dé giáo dục mọi người về tác động tiêu cực của hành động của họ đối với môi trường và việc bảo tồn HST, dẫn đến mat doanh thu từ các hoạt động du lịch sinh thái biển.
Nhiều cấp chính quyên, tổ chức và cộng đồng đang làm việc để cải thiện du lịch sinh thái ở các VQG ven biển và hải đảo thông qua nghiên cứu, phát triển chính sách, xây dựng năng lực, đầu tư và sự tham gia của cộng đồng. Điều này bao gồm việc tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái và tăng lợi ích cho cộng đồng địa phương. Ngoài ra, tập trung vào giáo dục công chúng và nâng cao nhận thức về tác động tiêu cực của việc hủy hoại môi trường và tam quan trong của việc bảo tồn các HST dé có doanh thu bền vững từ các hoạt động du lịch sinh thái biển. Hướng phân tích, đánh giá cảnh quan, dịch vụ cảnh quan vườn quốc gia Trong nghiên cứu ứng dụng cảnh quan, có hai vấn đề quan trọng luôn song hành với nhau: đánh giá cảnh quan và quy hoạch không gian sử dụng tai nguyên hợp lý và quy hoạch bảo vệ môi trường.
Về vấn đề này, ở Nga và Liên Xô cũ đã có nhiều nghiên cứu về đánh giá cảnh quan và sử dụng hợp lý tài nguyên cũng như bảo vệ thiên nhiên cho các lĩnh vực khác nhau. Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, cảnh quan học tập trung vào tính ứng dụng và gắn với điều kiện xã hội, văn hóa, con người của từng địa phương, khu vực nhằm hướng tới sự thống nhất giữa tự nhiên, kinh tế và xã hội dé phục vụ mục tiêu phát triển. Các nghiên cứu đã chú ý đến sự tương tác giữa tự nhiên 12 và văn hóa, đặc biệt là các cảnh quan văn hóa có thé được trẻ hóa hoặc hình thành các cảnh quan văn hóa mới với cấu trúc khác với các cảnh quan hiện có. Ngoài ra, mối quan hệ giữa con người và môi trường được coi là một loại cảnh quan độc đáo, được gọi là cảnh quan thiên nhiên con người.
Trên cơ sở các nghiên cứu về cảnh quan này, các nhà khoa học đã đề xuất các chiến lược sử dụng tài nguyên hợp lý nhằm khai thác hiệu quả các lợi ích kinh tế và xã hội đồng thời tránh gây hại cho môi trường. Cảnh quan là đối tượng nghiên cứu và quy hoạch thích hợp nhất dé chính quyền dia phương có được cái nhìn rõ ràng nhất về các quá trình sinh thái nhân văn chịu tác động mạnh mẽ của quy hoạch.