mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể.I cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam: Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ 8030’ Bắc đến 230 Nam.
Sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các vùng miền, tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH. Các hệ sinh thái rất đa dạng: từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc, tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, cho tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ngập nước ven biển. Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật. Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học, y dược và thực tiễn lớn.
5 Ngoài những tác phẩm nổi tiếng của Loureiro (1790), của Pierre (1879 – 1907), từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam. Một trong những công trình nổi tiếng, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte chủ biên (1907 – 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương.
Thái Văn Trừng (1978) cũng đã dựa vào công trình này để thống kê hệ thực vật Việt Nam và biết được có 7004 loài, 1850 chi, 289 họ. Riêng miền Bắc Pócs Tamás (1965) thống kê được 5190 loài, Phan Kế Lộc (1969) thống kê và bổ sung, nâng số loài ở miền Bắc lên 1660 chi và 140 họ. Trong đó có 5069 loài thực vật hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Gần đây, Aubréville khởi xướng và chủ biên bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam” (1960 – 1997) cùng với nhiều tác giả khác đến nay đã công bố 29 tập nhỏ, gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số họ đã có).
Ngoài ra còn có công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên từ năm 1969 – 1976, “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu, còn lại 5246 loài thực vật có mạch. Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7 tập “ Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên. Trịnh Đình Lý và tập thể (1993) đã công bố Từ điển cây thuốc Việt Nam.
Trong thời gian gần đây, các nhà thực vật Nga và Việt Nam đã hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam đăng trên Kỷ yếu “Cây có mạch của thực vật 6 Việt Nam – Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora” tập 1 – 2 (1996) và Tạp chí Sinh học số 4 chuyên đề (1994 và 1995). Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam hai năm (1999 – 2000), đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam, và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam. Từ năm 1995 – 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác đã công bố một số bài báo đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, Vùng núi đá vôi Hoà Bình, Sơn La, Khu Bảo tồn Na Hang của Tuyên Quang, vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pang, Vùng ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Phong Nha - Kẻ Bàng, Cát Tiên…Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã công bố cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn trong cả nước. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Lâm Đồng: Từ sau năm 1953, ngoài việc khảo cứu cây Canh-ki-na và một vài loài thảo mộc ở rừng địa phương, Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm Đồng (Trung tâm Thực nghiệm Lâm sản Cao nguyên) đã khảo cứu kỹ thuật gieo ươm thông; nghiên cứu kỹ thuật gây trồng rừng nhân tạo thông 2 lá và một số loài thực vật mọc nhanh nhằm mục tiêu tạo lập các khu rừng công nghiệp ở vùng độ cao 800 - 1.
Nghiên cứu các loài thông, khai thác nhựa thông và một số loài cây lá rộng được nhập nội, để tiến hành thực nghiệm gieo ươm và trồng rừng. Từ năm 1984, Trung tâm phối hợp với Trung tâm giống DANIDA, Trung tâm giống cây rừng tổ chức nghiên cứu, khảo nghiệm cải thiện giống 7 thông 3 lá. Hiện nay, đang tiếp tục thu hái các cây trội để khảo nghiệm các dòng "hậu thế"; Khảo nghiệm để gây trồng loài thông đỏ (Taxus wallichiana), xây dựng mô hình vườn rừng bạch đàn vùng cao (Eucalyptus microcorys) cho Tây Nguyên; thực hiện đề tài bảo tồn nguồn gen quý hiếm ở Đà Lạt - Lâm Đồng. Trung tâm đã nghiên cứu, khảo nghiệm hàng trăm loài thực vật để gây rừng, trong đó có những loài đặc hữu bản địa như: Pinus dalatensis, Pinus merkusii, Pinus kesiya, Pinus krempfii,… và nhiều loài được nhập nội từ nhiều nước trên thế giới như: Úc, New Zealand, Philippines, Nhật Bản, Ấn Độ, châu Phi, Đức, Hà Lan, Mỹ và vùng Caribê,… Các công trình nghiên cứu của Viện Sinh học Tây Nguyên nghiên cứu thuần hóa, nhập nội các loài động vật, thực vật; chế biến và bảo quản thực phẩm; chiết tách các hoạt chất sinh học có nguồn gốc thực vật; nghiên cứu tổng hợp các sản phẩm từ tinh dầu của một số loài thực vật.
Những năm gần đây cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về thực vật tại khu vực Lâm Đồng như công trình của Nguyễn Đăng Hội, và cộng sự năm 2009 “Báo cáo kết quả nghiên cứu khu hệ động, thực vật Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng”, công trình nghiên cứu về Cây thông đỏ Lâm Đồng, một nguồn nguyên liệu quý để sản xuất thuốc chữa ung thư nhóm taxoid năm 1996 của nhóm tác giả Lê Thị Xuân, Mai Văn Trì và M. Shemluck; Nghiên cứu cơ sở khoa học kỹ thuật để kinh doanh tổng hợp rừng Thông ba lá Tây Nguyên năm 1988 của Nguyễn Ngọc Lung; hay công trình “Nghiên cứu trồng rừng thử nghiệm phục hồi một số loài thực vật quý hiếm từ năm 2007-2009 Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà” của Lê Cảnh Nam và cộng sự. Năm 2001, Trung tâm Tài nguyên môi trường thuộc Trường Đại học Đà Lạt đã tiến hành đề tài điều tra xác định loài thực vật và thiết lập ô tiêu 8 chuẩn tại vườn sưu tập thực vật Trại thực nghiệm lâm nghiệp Cam Ly; kết quả cũng đã xác định được 170 loài thực vật tầng dưới phân bố tại vườn sưu tập thực vật thuộc Trại thực nghiệm lâm nghiệp Cam Ly. Năm 2005, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng đã phối hợp cùng Phân viện điều tra quy hoạch rừng II triển khai thực hiện xây dựng Luận chứng khoa học về quy hoạch và xác định các chức năng của khu rừng làm cơ sở pháp lý và khoa học cho các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Đà Lạt.
Công trình nghiên cứu đánh giá mức độ đa dạng sinh học tại khu du lịch hồ Tuyền Lâm Đà Lạt của nhóm tác giả. Đề án bảo tồn loài cây thông đỏ hiện có tại Lâm Đồng được thực hiện năm 2010, do Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng tổ chức thực hiện. 9 CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng tài nguyên thực vật rừng hiện có trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, từ đó đề xuấ t các giải pháp quản lý hiệu quả tài nguyên thực vật trên địa bàn thành phố.
Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá được hiện trạng tài nguyên thực vật trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. - Đánh giá được thực trạng sử dụng và quản lý tài nguyên thực vật tại thành phố Đà Lạt. - Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu các loài thực vật thường bị khai thác sử dụng ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. - Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài nguyên thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài nguyên thực vật tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và hệ thống số liệu tình hình khai thác, sử dụng thực vật rừng trên địa bàn. Nội dung nghiên cứu: 2. Nghiên cứu thực trạng tài nguyên thực vật rừng tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng: 10 2. Nghiên cứu thực trạng sử dụng và quản lý tài nguyên thực vật tại thành phố Đà Lạt: 2.
Xây dựng danh lục và bộ cơ sở dữ liệu các loài thực vật có giá trị cao về kinh tế và bảo tồn, thường bị khai thác và sử dụng trên địa bàn: 2. Đánh giá những tác động bất lợi gây suy giảm tài nguyên thực vật và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài nguyên thực vật tại địa phương: 2. Phương pháp nghiên cứu: 2. Nghiên cứu thực trạng tài nguyên thực vật rừng tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng: Với nội dung này tác giả sử dụng phương pháp Kế thừa số liệu, tham khảo những tài liệu, những công trình nghiên cứu về tài nguyên thực vật rừng ở Lâm Đồng nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng; kết quả kiểm kê tài nguyên rừng của các đơn vị chủ rừng trên địa bàn.
Bên cạnh đó tác giả còn tiến hành điều tra thực địa tại các khu rừng trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Do diện tích rừng lá kim chủ yếu là thông 3 lá nên tác giả chỉ tiến hành điều tra tuyến trên các khu rừng lá rộng đặc trưng cho khu vực nghiên cứu.