CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm, quan niệm về quản lý rừng bền vững. Khái niệm phát triển bền vững được đề cập chính thức trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng thế giới về phát triển bền vững họp ở Brundland (WCED, 1987). Theo khái niệm này “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn mọi nhu cầu của những thế hệ tiếp theo” [12].
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) định nghĩa: "Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý các khu rừng cố định nhằm đạt một hoặc nhiều hơn các mục tiêu quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ của rừng mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường và xã hội" Tiến trình Helsinki định nghĩa: "Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong hiện tại và tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế, xã hội của chúng ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác"[21]. Theo các khái niệm và định nghĩa trên, có thể hiểu QLRBV hay sử dụng bền vững tài nguyên rừng là cách quản lý đảm bảo đạt được các mục tiêu: Bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội, chúng phải được xem xét một cách bình đẳng và đồng thời. Tính bền vững thể hiện ở hai cấp độ: Mức độ có thể đạt được trong thực tế luôn nhỏ hơn mức độ bền vững tối ưu về mặt 4 lý thuyết. Các khái niệm, định nghĩa trên cũng chỉ rõ sự cần thiết phải áp dụng một cách linh hoạt các biện pháp quản lý rừng phải phù hợp với điều kiện ở từng địa phương và phải được thực hiện một cách đồng bộ, liên thông trên phạm vi quốc gia, vùng và toàn cầu.
Cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về lâm nghiệp bền vững nhưng về tổng thể là đồng thuân theo quan điểm phát triển bền vững. Một số quan điểm có tính tiêu biểu được đề cập đến trong "Lời kêu gọi nguyên tắc vấn đề rừng" được thông qua trong Hội nghị môi trường và phát triển Liên Hợp Quốc năm 1992 đã nêu lên: "Tài nguyên rừng và đất rừng nên được quản lý bằng phương thức bền vững để thoả mãn nhu cầu xã hội, kinh tế, văn hoá và tinh thần của người đương thời và thế hệ con cháu. Nhu cầu đó là những sản phẩm và dịch vụ của rừng, ví dụ gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ, các loại lương thực, rau, y dược, chất đốt, nhà ở, việc làm, vui chơi, nơi ở của động thực vật hoang dã, tính đa dạng của cảnh quan và những sản phẩm khác của rừng. Nên áp dụng mọi biện pháp để bảo vệ rừng, làm cho nó tránh được những ô nhiễm, bao gồm ô nhiễm không khí, cháy rừng, sâu và bệnh hại để giữ được mọi giá trị của chúng" [17].
QLRBV bao gồm hai nội dung chủ yếu, đó là: xây dựng, bảo vệ và sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của xã hội hiện tại cũng như ổn định, bền vững trong tương lai. Phát triển nguồn tài nguyên rừng mang lại giá trị về kinh tế, thu nhập ổn định cho người dân nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường và gây phương hại đến các ngành kinh tế khác. Công cụ để quản lý rừng bền vững bao gồm các quy trình công nghệ, chính sách pháp luật, giải phát kỹ thuật và các hoạt động cụ thể nhằm thoả mãn được những nguyên lý về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Như vậy, quản lý bền vững tài nguyên rừng là phương thức quản lý được cộng đồng xã hội chấp nhận, có cơ sở về mặt khoa học, có tính khả thi về mặt 5 kỹ thuật, đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường sinh thái [7].
Tại Hội nghị các Bộ trưởng Lâm nghiệp lần thứ 2 họp ở Helsinki năm 1993, một Hướng dẫn chung về quản lý rừng bền vững ở Châu Âu đã được thống nhất với 6 tiêu chí: - Duy trì và phát triển hợp lý tài nguyên rừng và sự đóng góp của nó cho chu trình cacbon. - Duy trì và nâng cao sức sống các hệ sinh thái rừng một cách khoẻ mạnh và bền vững. - Duy trì và nâng cao chức năng sản xuất của rừng (gỗ và lâm sản ngoài gỗ). - Duy trì và nâng cao tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng.
- Duy trì và tăng cường chức năng phòng hộ của rừng (bảo vệ đất và nước). - Duy trì và nâng cao các chức năng kinh tế, xã hội cũng như cải thiện các điều kiện khác của rừng. Sáu tiêu chí trên là các nguyên tắc chung khi áp dụng cho các điều kiện cụ thể sẽ được xây dựng thành các chỉ tiêu định lượng, trong đó phải xem xét các yếu tố về tự nhiên và các yếu tố về kinh tế xã hội, quan trọng nhất là đặc điểm của từng loại rừng. Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các đặc điểm về mặt xã hội và nhân văn.
Để có thể sử dụng tài nguyên rừng bền vững, trong sản xuất lâm nghiệp cần tuân thủ một số vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc như duy trì và cải thiện 6 độ phì của đất, bảo đảm tái sinh, ổn định năng suất, nâng cao sức chống chịu của lâm phần, bảo tồn đa dạng sinh học và đáp ứng các yêu cầu về kinh tế - xã hội. Có thể hiểu nội dung cơ bản của vấn đề sử dụng bền vững tài nguyên rừng như sau: 1. Sử dụng tài nguyên rừng bền vững về mặt kinh tế Một hệ thống sử dụng tài nguyên rừng bền vững về kinh tế phải đáp ứng được 4 yêu cầu cơ bản sau: - Đạt năng suất cao và ngày càng tăng. - Chất lượng tốt.
- Đạt giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích cao. - Giảm rủi ro đến mức tối thiểu. Hệ thống sử dụng tài nguyên rừng phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có điều kiện tự nhiên. Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính như gỗ, tre, nứa,.
và các sản phẩm ngoài gỗ như lá, hoa, quả, hạt, dược liệu. Việc so sánh giữa các hệ canh tác là so sánh tương đối và trên cơ sở năng suất bình quân của vùng. Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức trung bình của vùng đó, nếu không sẽ không thể cạnh tranh với các hệ sử dụng đất khác, nhất là trong cơ chế thị trường. Năng suất phải có xu hướng tăng dần, khi năng suất giảm thì hệ thống không thể bền vững.
Trong nhiều trường hợp chiều hướng năng suất có ý nghĩa hơn là giá trị tuyệt đối của năng suất tức thời. Các nhân tố rủi ro phải được tính toán sao cho có thể giảm đến mức thấp nhất như thiên tai, sâu bệnh hại, lửa rừng,. Ví dụ rừng trồng thuần loài đồng tuổi dễ bị rủi ro thiệt hại nhiều hơn là rừng hỗn giao khác tuổi. Cần chú ý cả khía cạnh thị trường trong kinh doanh, tránh cho người sản xuất bị người 7 mua độc quyền ép giá.
Sản phẩm ưu tiên phải là các sản phẩm dễ bảo quản, ít hư hỏng, để được lâu và có thị trường rộng. Sử dụng tài nguyên rừng bền vững về mặt bảo vệ môi trường Sử dụng tài nguyên rừng bền vững theo yêu cầu bảo vệ môi trường phải thoả mãn 3 nội dung cơ bản: - Duy trì và không ngừng cải thiện sức sản xuất của đất. - Tăng độ che phủ của lớp thảm thực vật. - Bảo vệ được nguồn nước.
Yêu cầu về bảo vệ đất được thể hiện bằng chỉ tiêu giảm lượng mất đất hàng năm dưới mức cho phép, mức này được xác định cho từng loại đất, từng loại thảm thực vật và cho từng vùng địa lý khác nhau. Độ phì của đất tăng dần là đòi hỏi bắt buộc đối với sử dụng đất bền vững trong bất kỳ hệ canh tác nào, trong đó tuần hoàn các chất hữu cơ được cải thiện có vai trò quan trọng hàng đầu. Độ che phủ mặt đất phải đạt tối thiểu trên mức an toàn sinh thái, thông thường là 35%. Tuy nhiên khi xét từng đơn vị nhỏ thì tỷ lệ che phủ có thể khác nhau, song xét tổng thể toàn hệ thống thì tỷ lệ này phải đạt hoặc vượt ngưỡng tối thiểu 35% [22].
Ngoài ra đặc điểm che phủ theo thời gian trong năm hay tính liên tục của nó cũng cần được xem xét đến. Khả năng bảo vệ nguồn nước bao gồm hai mặt: số lượng và chất lượng. Về số lượng hay khả năng sinh thuỷ của rừng có thể xác định được qua nghiên cứu toàn lưu vực hay thông qua các quan trắc định tính còn chất lượng nước có thể nhận biết không khó khăn bằng một loạt các chỉ tiêu định lượng. Ở nước ta, ước tính khoảng 50% dao động về sản lượng lúa ở Việt Nam là do tác động của nạn mất rừng, thậm chí có thể có những dao động lớn hơn nếu 8 không duy trì được thảm rừng tự nhiên trên lưu vực các sông, nhất là ở miền Bắc và miền Trung [21].
Sử dụng tài nguyên rừng bền vững về hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Đa dạng sinh học bao gồm 3 thành phần chính: Đa dạng về gen, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái. Mỗi thành phần của đa dạng sinh học có những giá trị riêng về khoa học, kinh tế, môi trường và giữa chúng với nhau có những mối quan hệ hữu cơ ràng buộc. Đa dạng về gen đảm bảo cho sự đa dạng trong loài, là cơ sở khoa học cho việc tuyển chọn lai tạo ra các giống mới hay loài mới.
Đa dạng về loài thường đảm bảo cho sự phong phú của quần xã, duy trì cân bằng sinh học bền vững; còn đa dạng về hệ sinh thái đảm bảo duy trì các chức năng dịch vụ hệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các quần thể và sự toàn vẹn của cả quàn xã sinh vật.