Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở pháp lý cấp Trung ương Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp;số 16/2017/QH14 ngày 15/11/2017. Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ quyết định chính sách thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; Nghị định 147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR; Thông tư 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23 tháng 11 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thông tư số 20/2012/TT-BNNPTNT ngày 07/5/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục nghiệm thu thanh toán tiền chi trả DVMTR.
Thông tư Số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 16/11/2012 Thông tư liên tịch của Bộ NNPTNT - Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thông tư 22/2017/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Hướng dẫn một số nội dung thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. e 5 Thông tư số 04/2018/TT-BTC ngày 17/01/2018 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn quản lý và sử dụng tiền DVMTR. Cơ sở pháp lý cấp địa phương Quyết định 31/2013/QĐ-UBND ngày 13/8/2013 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 22/5/2014 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Quyết định số 11/2015/QĐ-UBND ngày 30/3/2015 của UBND tỉnh Lào Cai sửa đổi, bổ sung một số nội dung của quyết định số 15/2014/QĐ- UBND quy định về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày 25/11/2015 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quy định thí điểm về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở nuôi cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Quyết định 1551/QĐ-UBND ngày 27/5/2016 của UBND tỉnh Lào Cai quy định thí điểm về mức thu, quản lý và sử dụng tiền DVMTR đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Quyết định số 12/2017/QĐ-UBND ngày 15/3/2017 về ban hành quy định mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày 28/4/2017 của UBND tỉnh Lào Cai sửa đổi, bổ sung một số Điều tại Quyết định số 4273/QĐ-UBND ngày e 6 25/11/2015 về quy định thí điểm về mức thu, quản lý và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở nuôi cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Cơ sở thực tiễn Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc với 09 đơn vị hành chính (01 thành phố, 8 huyện). Tổng diện tích tự nhiên là 638.389,59 ha trong đó diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp là 476.880,21 ha (chiếm 65,38% tổng diện tích tự nhiên), trong đó diện tích có rừng là 355.662 ha, với 158/164 xã, phường, thị trấn có rừng.
Diện tích nằm trong lưu vực các nhà máy thủy điện: 401.527,26 ha, tổng diện tích có rừng trong lưu vực: 215. Cùng với những lợi thế về địa hình, điều kiện tự nhiên và dân cư, Lào Cai được đánh giá là tỉnh có nhiều tiềm năng trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR của Chính phủ. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai và thực hiện tại tỉnh Lào Cai từ năm 2012. Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện, chính sách chi trả DVMTR đã khẳng định hướng đi đúng đắn, mang lại những hiệu quả, từng bước đi vào cuộc sống người dân, tạo lập nguồn tài chính mới ngoài ngân sách, mang tính ổn định, bền vững, phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số, góp phần ổn định kinh tế xã hội, trật tự an ninh xã hội tại các địa phương, đặc biệt các xã vùng biên giới.
Chính sách có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ phát triển rừng toàn tỉnh. Lào Cai được Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ BVPTR Việt Nam đánh giá là một trong những đơn vị dẫn đầu cả nước trong công tác thực thi chính sách chi trả DVMTR. Tỉnh đã ban hành hiều văn bản thực hiện chính sách tại địa phương và được chọn là một trong 6 tỉnh thí điểm mở rộng đối tượng thu phí DVMTR đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp, cá nước lạnh và du lịch. e 7 Từ năm 2012-2017, số tiền thu DVMTR đã tăng gần 05 lần nhiệm vụ thu bổ sung thêm phần thu từ các cơ sở nuôi cá nước lạnh, các cơ sở sử dụng nước cho công nghiệp, dịch vụ du lịch.
Số lượng chủ rừng phải thanh toán chi trả từ 9.036 hộ gia đình lên 15.000 hộ gia đình, tăng gấp 1,7 lần. Song trong quá trình thực hiện chính sách tại Lào Cai đã bộc lộ nhiều bất cập cả về phía thu và phía chi trả dịch vụ. Như vậy, với những bất cập kể trên, chính sách chi trả DVMTR đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế cho cả phía cơ quan quản lý cũng như các đối tượng sử dụng và cung cấp DVMTR trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị mà rừng mang lại. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới PES là một khái niệm không còn xa lạ với các nước trên thế giới mặc dù khái niệm này mới được hình thành từ những năm 1970 trở lại đây.
Có thể tổng quan lịch sử phát triển PES trên thế giới qua hình ảnh sau: Châu Âu - 1970 Bắc Mỹ - 1970 Châu Á - 2003 Châu Phi - 2003 Các nước Mỹ Latin -1990 Châu Đại Dương - 2008 Hình 1. Bản đồ lịch sử hình thành, phát triển PES Cho đến nay, PES đã phát triển rộng khắp và được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. PES đã dần trở thành một giải pháp chính sách để giảm e 8 thiểu gánh nặng đến ngân sách cũng như khuyến khích, chia sẻ lợi ích trong xã hội. Khu vực Bắc Mỹ: Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng PES sớm nhất và gặt hái được nhiều thành công.
Điển hình là tại thành phố New York đã thực hiện các chương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và nhiều chương trình hỗ trợ các chủ đất áp dụng hương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước thành phố. Các hoạt động hỗ trợ sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền nước bán cho người sử dụng nước. Người dùng nước trong Chương trình quản lý đầu nguồn ở Thành phố NewYork bị đánh thuế để nộp bổ sung vào quỹ của chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương. Bên cung cấp dịch vụ là những nông dân nuôi bò và trồng rừng được nhận 40 triệu đô la Mỹ/năm để thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp và tái tạo rừng cung cấp nguồn nước cho công ty cấp nước thành phố (Nels Johnson và cộng sự, 2001).
Tại các nước Mỹ la tinh như Ecuado, năm 1999, Quỹ bảo tồn nước quốc gia (FONAG) được thành lập để quản lý PES tại lưu vực Quito. Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước dành 1% doanh thu đóng góp vào FONAG. Việc đóng góp này được thực hiện dưới hình thức áp phí sử dụng dịch vụ hệ sinh thái vào phí sử dụng nước. Mỗi đơn vị đóng góp cho FONAG đều là một thành viên của Ban giám đốc và có quyền biểu quyết theo tỷ lệ mà họ đóng góp.
Quỹ này được đầu tư cho việc bảo tồn lưu vực đầu nguồn và chi trả trực tiếp cho những người sở hữu rừng. Tại Colombia, dùng thuế dịch vụ môi trường (eco-tax) đánh trên người dùng nước cho công nghiệp và đô thị để quản lý rừng đầu nguồn. Theo đó, những người dùng nguồn nước được sử dụng thường xuyên cho cấp nước sinh hoạt, cho công nghiệp phải chi trả thuế dịch vụ môi trường cho các chủ đất tư nhân và đô thị để họ cải thiện quản lý rừng, mở rộng trồng rừng (Nels e 9 Johnson và cộng sự, 2001). Những người sử dụng nước ở thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoán chi trả tự nguyện cho các gia đình ở lưu vực đầu nguồn nhằm bảo vệ nguồn nước.
Mexico đã thành lập quỹ Lâm nghiệp năm 2002, đến năm 2003 đã hình thành Chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng thủy văn nhằm thu phí sử dụng nước để chi trả cho việc bảo tồn những khu vực rừng đầu nguồn quan trọng. Một trong các quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển tiên phong trong việc áo dụng chi trả DVMTR là Costa Rica. Đây là quốc gia có tỷ lệ mất rừng cao nhất thế giới. Luật Lâm nghiệp của Costa Rica được ban hành năm 1996 quy định khái niệm và các nguồn tài chính cho chi trả dịch vụ môi trường.
Theo Khoản K, Điều 3, Luật về rừng của Costa Rican: “Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng các giá trị từ rừng mà có tác động bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường. Bao gồm: Giảm phát thải khí nhà kính; Bảo vệ nguồn nước cho đô thị, nông thôn, thuỷ điện; Bảo vệ đa dạng sinh học nhằm mục đích phát triển bền vững, nghiên cứu khoa học và điều chế dược phẩm; Nghiên cứu và cải tạo nguồn gen; Bảo vệ các hệ sinh thái và cảnh quan cho du lịch và nghiên cứu khoa học”. Luật quy định thành lập Quỹ Tài chính rừng quốc gia (FONAFIFO) để quản lý các hoạt động liên quan đến DVMTR, nhằm chi trả cho các chủ rừng và các khu bảo tồn để phục hồi, quản lý và bảo tồn rừng.