CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở ngoài nước Các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới đều nhất trí cho rằng: Giáo dục chính là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực con ngƣời chính là tài sản quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Trong những công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu giáo dục Nga khẳng định rằng: Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của quản lý nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên. Saxerđôtôp (1985) đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng, các ông nhận định “Công tác quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng là khâu then chốt trong hoạt động quản lý trƣờng học.” [30, tr 28] Xu thế Trƣờng học mới, thực chất là một phong trào giáo dục, văn hóa quan trọng nhất diễn ra ở Châu Âu và châu Mĩ trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, từ đó đã tạo đột phá, để thay đổi trƣớc lối giáo dục truyền thống, thụ động và độc đoán. Các phƣơng pháp sƣ phạm mới, khái niệm giáo dục mới và các nguyên tắc của nó đƣợc dựa trên thành tựu khoa học giáo dục với tên tuổi của các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới. [28, tr 155] Phong trào về xu thế Trƣờng học mới cũng đã đƣợc gọi là phong trào Trƣờng học hiện đại, phong trào Cải cách giáo dục, phong trào trƣờng học tiến bộ và giáo dục mới.
Và nó có vai trò chuyển tải ý tƣởng về giáo dục một “con ngƣời mới” cho một thế giới hiện đại. Nó cũng đã đƣợc hình thành nhƣ một xu hƣớng giáo dục của “cuộc cải cách giáo dục” có tầm quan trọng nằm trong việc thay đổi loại hình giáo dục một chiều độc đoán, giáo viên làm trung 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tâm giáo dục, thành những giáo viên mới, những ngƣời lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động sƣ phạm của mình. Các nhà giáo dục và nhà triết học nổi tiếng ở châu Âu và châu Mĩ cũng nhƣ trên thế giới đã đóng góp thành tựu khoa học của mình vào việc hình thành tƣ tƣởng và tổ chức của một loại trƣờng mới mà quá trình dạy học phù hợp hơn với tâm lý trẻ em, chẳng hạn nhƣ Decroly (1871-1932), Gion Điuây (1859- 1952), G.Piagie (1896-1980), Claparade (1873-1940), Ferriere (1879-1960) và ở Colombia, có Agustin Nieto Caballero, Raphael Bernal Jimenez và Tomas Restrepo Cadavid và nhiều nhà khoa học khác. Có những triết gia, những nhà giáo dục có ảnh hƣởng lớn tới mô hình EN nhƣ: - L.
Vƣgotxki (1896-1934) , nhấn mạnh tƣơng tác xã hội giữa trẻ em với ngƣời khác và với thế giới. Piagie (1896-1980), nghiên cứu tâm lý con ngƣời, nhận thức của con ngƣời trong mối quan hệ với môi trƣờng, với cơ thể và với não bộ. - Juan Jacobo Rousseau (1712-1778), với giáo dục cá nhân, tự phát và tự nhiên, nhằm xây dựng Hội đồng tự quản học sinh. - Juan Amos Comenio (1592-1670), với phƣơng pháp dựa trên bản chất, trực giác và tự hoạt động, nhằm sử dụng các trung tâm nguồn lực học tập.
- Gion Điuway (1854-1952), với gợi ý một nền giáo dục chuẩn bị đời sống xã hội cho con trẻ: nhà trƣờng nên đƣợc tổ chức nhƣ một xã hội có luật lệ riêng của nó, nơi học sinh đạt đƣợc sự học tập về hiệu quả xã hội thông qua kinh nghiệm mà không bỏ qua sự tự do về quyền và nghĩa vụ, nhằm xây dựng Hội đồng tự quản học sinh. - Maria Montessori (1869-1952), với đóng góp của học sinh tự quản lớp học. Tổ chức các lớp học theo nhóm làm việc. Tạo hứng thú của nhóm bởi một nhóm trƣởng.
Học sinh đƣợc tự do trong việc tìm kiếm các thông tin và 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên hoặc các tƣ liệu khác để củng cố việc học của mình. Tài liệu giảng dạy giúp bổ sung tri thức cho từng cá nhân và cho cả nhóm. Trao đổi từ chính các chủ thể và không ràng buộc cung cấp thông tin giữa giáo viên với học sinh và giáo viên với giáo viên, nhằm làm việc nhóm hiệu quả. Quản lý vai trò các chủ thể.
Sử dụng chia sẻ tài liệu học tập giảng dạy. Mối quan hệ bình đẳng giữa giáo viên với học sinh. Phát triển trung tâm tài nguyên học tập tại mỗi lớp học. - Anton Macurenco (1898-1939), với sự cần thiết phải nỗ lực, kỷ luật và hoạt động mạnh mẽ trong giáo dục.
Công việc và sự cố gắng phải là từ tập thể. Khác biệt giữa các cá nhân phải đƣợc tôn trọng. Công nhận giá trị và tầm quan trọng của chơi mà học là thành phần không thể thiếu đƣợc trong học tập và giáo dục nhằm giúp cho Hội đồng tự quản và học theo nhóm hoạt động có hiệu quả. Tăng cƣờng chia sẻ tài liệu học tập.
Harbart (1776-1841), với phƣơng pháp luận về quá trình học tập đƣợc thực hiện trong bốn giai đoạn: Hiểu biết đối tƣợng (quan sát); Liên hệ hoặc so sánh: hệ thống và khái quát, trong đó bao gồm sự hiểu biết các đối tƣợng và so sánh chúng; Thiết lập quan hệ nhƣ là kết quả của sự so sánh; Giai đoạn thực hiện nhằm thiết kế tài liệu hƣớng dẫn về quá trình và phƣơng pháp học tập có tƣơng tác. - Federico Froebel (1782-1852), với phƣơng pháp dạy học hƣớng trẻ em theo sở thích và các đặc tính của chúng. Rèn luyện học sinh trong các hoạt động giáo dục về tự hoạt động, tự chủ, lòng tự trọng, tự đánh giá và theo sở thích của trẻ trong một môi trƣờng của hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm phát huy Hội đồng tự quản học sinh. Quản lý các công cụ hỗ trợ học tập trong lớp học.
Làm việc theo nhóm hiệu quả. Đánh giá theo quá trình học tập của học sinh. Giáo viên là ngƣời biết tƣ duy và là ngƣời hƣớng dẫn, tạo thuận lợi cho việc học của học sinh. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Adolfo Ferriere (1879), với giáo viên không thể độc quyền, độc đoán, là ngƣời có những uy quyền tối cao, trong lớp học, cho phép đƣợc trừng phạt với sự hà khắc, đe dọa và đánh giá thấp trẻ em hoặc bị trừng phạt khi không phục tùng thầy giáo.
Giáo viên đóng vai trò nhƣ là ngƣời luôn tạo điều kiện thuận lợi cho học tập của học sinh. - Elena Parkhurt (1919), với “Kế hoạch Dalton” về những đóng góp đầy cảm hứng trong việc đánh giá giá trị ban đầu kinh nghiệm của trẻ, khả năng của trẻ có thể quan sát và tìm hiểu, tiến tới ứng dụng thực tế, nhằm quản lý hƣớng dẫn giảng, dạy học tƣơng tác. Quá trình phƣơng pháp luận dạy học. Hoạt động mở và linh hoạt.
Trung tâm tài nguyên học tập. - Ovidio Decroly (1871-1932) với phƣơng pháp toàn cầu hóa, đóng góp cho phƣơng pháp sƣ phạm tích cực nhƣ: tôn trọng nhân cách của trẻ, nhằm đảm bảo tiến độ quá trình học của trẻ. Quá trình phƣơng pháp luận dạy học. [28, tr 157] - Mô hình trƣờng học mới - Escuela Nueva (EN) đƣợc hình thành từ những năm 70-80 của thế kỷ XX.
Đây là mô hình nhà trƣờng mới, theo hƣớng tiếp cận năng lực của học sinh, mô hình này có tầm ảnh hƣởng rộng rãi tới giáo dục các nƣớc vùng Caribe và hầu hết các nƣớc Mỹ Latinh. Mô hình EN dựa trên năm nguyên tắc cơ bản: + Lấy học sinh làm trung tâm + Nội dung học gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của học sinh. + “Xếp lớp linh hoạt”: Học sinh đƣợc lên lớp trên nếu đƣợc giáo viên đánh giá đạt đƣợc các mục đích tối thiểu. + Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với giáo viên để giúp đỡ học sinh một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học tập của con em mình.
+ Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hƣớng thời đại cho học sinh. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong mô hình EN, luôn luôn duy trì 4 cấu phần đƣợc coi là nền tảng của mô hình, đó là: Cấu phần Tài liệu; Cấu phần Tập huấn; Cấu phần Quản lý; Cấu phần Cộng đồng. Đến nay, mô hình Trƣờng học mới đƣợc triển khai thành công ở nhiều nƣớc, trong đó có Cộng hòa Colombia. Hiện nay có khoảng 22 nƣớc đang phát triển ở khu vực Mỹ La tinh, Châu Á, Châu Phi áp dụng mô hình này.
Mô hình Trƣờng học mới đã giành đƣợc một số giải thƣởng quốc thế và đƣợc Ngân hàng thế giới (WB) và UNESSCO đánh giá là một trong ít mô hình phù hợp với điều kiện giáo dục của các nƣớc đang phát triển. Ở trong nước Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm đến sự nghiệp GD&ĐT. Sự quan tâm này thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau, nhất là trong việc xác định vị trí, vai trò của GD&ĐT ở từng thời kỳ cách mạng. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới của cách mạng nƣớc ta hiện nay, Đảng ta đã và đang tiếp tục khẳng định rõ hơn vai trò to lớn của GD&ĐT đối với sự phát triển KTXH.
Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa VII (1993) xác định: GD&ĐT cùng Khoa học - Công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đầu tƣ cho GD&ĐT là đầu tƣ phát triển. Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII (1996) nhấn mạnh: Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về vấn đề định hƣớng phát triển ngành, lĩnh vực đã chỉ rõ về GD&ĐT: “Đổi mới tƣ duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế QL để tạo ra sự chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nƣớc nhà… ƣu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lƣợng dạy và học” và “Phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học - công nghệ với GD&ĐT để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức.
Thống nhất định hƣớng giữa phát triển khoa học và công 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ với chiến lƣợc GD&ĐT, phát huy quan hệ tƣơng tác thúc đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này” [32].