phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường tiểu học quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường tiểu học quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngày nay, việc giảng dạy ngoại ngữ đặc biệt là giảng dạy tiếng Anh đóng một vai trò rất to lớn trong việc hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hoá thì vai trò của tiếng Anh ngày càng được khẳng định. Năm 1976, Cộng đồng Châu Âu kêu gọi các quốc gia thành viên mở rộng việc dạy và học ngôn ngữ nhằm mục đích đảm bảo tất cả HS đều học ít nhất một ngoại ngữ trong khối Châu Âu. Năm 1995, trong Sách trắng của Ủy ban Châu Âu, phần dạy và học hướng tới một XH học tập (Teaching and Learning towards the Society) đã khuyến khích thế hệ trẻ học ít nhất hai ngoại ngữ của cộng đồng .” everyone should be proficient in two Community foreign languages” [37, tr.
Theo những thống kê cho thấy, đối với cấp TH tại các nước Châu Âu, tiếng Anh vẫn là một ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất. Tùy vào tình hình từng quốc gia mà tỉ lệ HS chọn học môn ngoại ngữ tiếng Anh có những sự khác nhau khá nhiều. Ở Bồ Đào Nha có 93% HS chọn học môn tiếng Anh trong khi tỉ lệ HS học tiếng Anh ở Tây Ban Nha là 71%. Tỉ lệ này tại Áo là 56%, Thụy Điển 62% và Phần Lan là 63%.
Tỉ lệ khá thấp khoảng 20% đối với các nước Đông Âu cũ” [37]. Trong một nghiên cứu gần đây, Graddol [16] khảo sát tình hình giảng dạy tiếng Anh bậc TH ở 8 nước trong khu vực gồm Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Indonesia và Việt Nam. Trừ Philippines là nước có lịch sử dạy tiếng Anh bậc TH lâu đời nhất (1901), và Singapore không có dữ liệu trong bản thống kê này, các nước còn lại trong đó có Việt Nam, việc giảng dạy tiếng Anh bậc TH bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước (riêng Nhật Bản bắt đầu từ năm 2002). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi tiếng Anh là môn học bắt buộc đối với HS TH ở Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc và Đài Loan, thì ở Việt Nam, Nhật Bản, và Indonesia tiếng Anh cho bậc TH vẫn còn là môn tự chọn [16].
Tiếng Anh được giới thiệu từ lớp 1 ở Singapore, Philippines và Thái Lan, trong khi đó ở Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Nam HS chính thức học tiếng Anh từ lớp 3, còn Indonesia là lớp 4. Tuy vậy, ở hầu hết các nước, HS đã bắt đầu làm quen với tiếng Anh từ lớp 1 hoặc 2 (Hàn Quốc là lớp 3). Trừ Nhật Bản và Indonesia, các nước còn lại đều đã có khung chương trình chính thức cho việc dạy tiếng Anh ở TH [24]. Số giờ HS TH ở các nước học tiếng Anh chênh lệch đáng kể.
Philippines có số giờ học cao nhất với 90 phút/ngày, Nhật Bản thấp nhất với khoảng 12 đến 20 giờ/năm, còn ở Việt Nam, Đài Loan, Indonesia và Hàn Quốc HS học khoảng từ 40 đến 80 phút / tuần (Thái Lan và Singapore không có dữ liệu) [24]. Theo Graddol, việc dạy tiếng Anh bậc TH ở các nước trong khu vực có chung những khó khăn. Trong khi số lượng HS của mỗi lớp còn quá đông, ví dụ như ở Singapore là 30 và Philippines lên đến 60, số HS này có trình độ không đồng đều khiến việc tổ chức DH gặp nhiều trở ngại. Về phía GV, các nước nêu trên có chung tình trạng thiếu nguồn GV được đào tạo bài bản chuyên nghiệp.
Do đó, số GV đang đứng lớp có năng lực tiếng Anh và nghiệp vụ sư phạm còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc GV lúng túng trong việc luyện âm cho HS cũng như tổ chức học tập theo PP lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó, thiếu môi trường giao tiếp bằng tiếng Anh trong và ngoài lớp học, thiếu tài liệu học tập kích thích óc sáng tạo và hứng thú cho HS và thời gian học được bố trí cho từng lớp quá ít cũng là những thách thức không nhỏ đối với việc dạy và học tiếng Anh cho bậc TH [24]. Kết quả nghiên cứu về GV dạy tiếng Anh cho bậc TH ở các nước trong khu vực được đào tạo và tuyển dụng không giống nhau.
Ở Singapore, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan GV TH phụ trách một lớp và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạy tất cả các môn cho lớp đó kể cả tiếng Anh. GV đứng lớp TH ở các nước này (trừ Nhật Bản) được đào tạo để dạy bậc TH, trong chương trình đào tạo có môn tiếng Anh [23]. Không giống như ở các nước vừa nêu, ở Việt Nam, Indonesia và Thái Lan môn tiếng Anh do GVTA phụ trách. Riêng ở Việt Nam, GVTA không được đào tạo để dạy cho bậc TH.
Những GV đang dạy cho bậc học này được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là những người tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng sư phạm đào tạo cho bậc THCS và THPT. Tình trạng thiếu GV tiếng Anh TH rất phổ biến ở các nước, trong đó ở Thái Lan, Indonesia và Việt Nam là trầm trọng nhất. Ở Indonesia và Việt Nam, do tiếng Anh chỉ là môn học tự chọn nên GV dạy ở bậc này chủ yếu là hợp đồng và họ có thể cùng lúc dạy cho nhiều trường hoặc trung tâm khác nhau. Phương pháp DHTA ở các nước trong khu vực còn nặng về PP truyền thống chú trọng đến vai trò của người thầy hơn là coi người học như trung tâm quá trình DH.
Ở hầu hết các nước này, các hoạt động học tập thường diễn ra theo kiểu tương tác giữa thầy và trò hơn là giữa trò với nhau dưới hình thức luyện tập thực hành theo cặp hoặc nhóm nhỏ. Các loại bài tập mang tính giao tiếp ít được áp dụng với lý do lớp quá đông GV không thể quán xuyến được. Một điều rất bất lợi là đa số GV dạy cho HS nhỏ tuổi theo kiểu được đào tạo để dạy cho HS ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc người lớn. Do không hiểu được tâm sinh lý và các đặc thù về lứa tuổi của HS, GVTA TH thường không thể phát huy một cách đầy đủ động cơ học tập và hứng thú của trẻ em.
Những kết quả nghiên cứu về kinh nghiệm dạy tiếng Anh ở một số quốc gia: Kết quả nghiên cứu của Moon cho thấy việc đào tạo và bồi dưỡng GVTA bậc TH ở nhiều nước có sự khác biệt rõ rệt. Chẳng hạn như ở Áo (Austria), GV được đào tạo 3 năm để dạy tiếng Anh và các môn học khác trong chương trình TH. Điều bất lợi của việc đào tạo này, theo nhận xét của Moon (2005b) [24], là năng lực chuyên môn về tiếng Anh không đạt mức chuẩn mực. Ở Hungary, GV có trình độ đào tạo tiểu học 4 năm có thể dạy như 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các GV đứng lớp bình thường và có dạy thêm môn tiếng Anh hoặc họ chỉ dạy môn tiếng Anh.
Còn ở các nước khu vực Đông Nam Á, nhiều GV dạy tiếng Anh cho TH là những người tốt nghiệp trường ngoại ngữ, thường không chuyên về dạy tiếng Anh cho TH. Ở Việt Nam, từ sau khi nước nhà giành được độc lập đến nay, do những điều kiện lịch sử, quan hệ ngoại giao và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã tổ chức dạy và học một số tiếng nước ngoài trong đó phổ biến là tiếng Anh. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục – Đào tạo [1], HS TH ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh bắt đầu học tiếng Anh từ những năm 1990 tại các trung tâm ngoại ngữ hoặc các CLB. Năm 1996, Bộ Giáo dục – Đào tạo có văn bản chính thức cho phép một số trường TH đưa môn tiếng Anh vào dạy như một môn tự chọn mỗi tuần 2 tiết.
Đến năm 2000 một số Sở Giáo dục – Đào tạo đã từng bước đưa môn tiếng Anh vào hệ thống QL giáo dục như ban hành các văn bản hướng dẫn việc dạy tiếng Anh trong các trường TH, mở các lớp tập huấn về PP giảng dạy tiếng Anh cho GV. Đến năm 2003, lần đầu tiên Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành chương trình môn tiếng Anh TH bắt đầu từ lớp 3, mỗi tuần 2 tiết cho các trường lớp 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân tác động, chất lượng DHTA ở nước ta chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn trên một bình diện chung. Nội dung, PP dạy và học chưa chú ý phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, phục vụ học tập.
Học hết phổ thông, đa số HS có trình độ ngoại ngữ không thể giao tiếp và sử dụng thông thạo tiếng Anh. Qua đó chúng ta thẳng thắn nhìn nhận chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh hiện rất thấp so với yêu cầu của XH. Hiệu quả thấp này thể hiện ở khả năng đáp ứng đòi hỏi của công việc, giao dịch, nghiên cứu và học tập bằng tiếng Anh của đa số người Việt Nam còn hạn chế. Trong nước đã có không ít hội thảo, bài viết, bài tham luận, đề tài nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề trong việc DHTA: Thực trạng của việc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DHTA, đổi mới PP DHTA, các biện pháp QL nâng cao chất lượng DHTA.
Các công trình nghiên cứu đã có đóng góp đáng kể trong việc đánh giá đúng thực trạng DHTA ở tại cơ sở, địa phương, bậc học của mình. Tìm ra những điểm mạnh chung hoặc những điểm bất cập để đồng nghiệp cùng chia sẻ, học tập rút kinh nghiệm lẫn nhau. Trên cơ sở các giải pháp, biện pháp mang tính khả thi, khoa học đã góp phần nâng cao QL chất lượng DH ngoại ngữ.