Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT tiếp cận đảm bảo chất lượng ở trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt tiếp cận đảm bảo chất lượng. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt theo tiếp cận đảm bảo chất lượng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản lý chất lượng trong giáo dục ở Việt Nam là một vấn đề đã được nhiều tác giả quan tâm và dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu. Các tác giả đã phân tích và chọn lọc một số tiếp cận có thể vận dụng vào trong quản lý giáo dục như: tiếp cận hệ thống, tiếp cận văn hóa tổ chức, tiếp cận quản lý chất lượng theo ISO, tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), tiếp cận các yếu tố tạo thành chất lượng đối với một cơ sở giáo dục (theo mô hình CIPO). Các tiếp cận này sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý nhà trường nâng cao trình độ và năng lực của mình để ứng dụng một cách năng động trong quản lý tại các cơ sở giáo dục. Đặc biệt, những năm gần đây dưới sự hướng dẫn của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, đã có rất nhiều thạc sĩ chuyên ngành QLGD - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội lựa chọn vấn đề quản lý chất lượng một cơ sở giáo dục theo các tiêu chuẩn chất lượng và cũng nhiều tác giả lựa chọn vấn đề quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trường làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Song việc nghiên cứu áp dụng những lý luận về quản lý chất lượng vào quản lý hoạt động dạy học một môn học cụ thể còn chưa được nhiều tác giả đề cập đến. Xác định được tầm quan trọng của việc QL hoạt động DH trong nhà trường là vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường và vận dụng các kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học chuyên ngành QLGD ở trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả sẽ dựa vào cơ sở lý luận của công tác quản lý chất lượng và quản lý hoạt động dạy học, để tìm hiểu thực trạng của QL hoạt động DH môn Toán và chỉ ra một số biện pháp QL hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt – Thành phố Hà Nội tiếp cận đảm bảo chất lượng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những khái niệm cơ bản 1.
Những khái niệm liên quan đến lĩnh vực quản lý 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những loại hình quan trọng và lâu đời nhất của con người, nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của con người. Quản lý là hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại.
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý: Tác giả của “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý, Frederik Winslon Taylo (1856 - 1915), người Mỹ được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”; “Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [20,Tr.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [21,Tr. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22,Tr. Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động quản lý là “Tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, Tr.
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [8, Tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới” Quản lý = Quản + Lý, trong đó: - Quản là chăm sóc gìn giữ sự ổn định - Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới, phát triển Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu dẫn đến rối ren. Vậy, Quản lý = ổn định + phát triển [6.
Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận về quản lý, song các định nghĩa đều đề cập tới bản chất chung của hoạt động quản lý đó là: - Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định. - Quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý. - Quản lý xét đến cùng, bao giờ cũng là quản lý con người. - Quản lý vừa là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật khách quan.
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có hiệu quả. Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động.
Không có một nguyên tắc nào cho tình 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn, nghệ thuật ứng xử, giao tiếp, khả năng thuyết phục, cảm hóa của nhà quản lý. Vì vậy, trong quản lý không thể tuân thủ theo những nguyên tắc, quy định cứng nhắc mà phải xử lý tình huống linh hoạt, mềm dẻo. Quản lý giáo dục QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của con người.
Hiểu theo nghĩa tổng quan, QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QLGD: Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các HĐDH, có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [26,tr.9] Trong cuốn sách giáo dục học, tác giả Phạm Viết Vƣợng đã viết: “Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội.206] Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể QL với khách thể QL nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [2, tr.50] Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa về QLGD, nhưng bản chất của QLGD là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể QL lên các thành tố tham gia 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào quá trình hoạt động giáo dục nhăm tực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. Các thành tố đó là mục tiêu giảng dạy, nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy, lực lượng giáo dục, đối tượng giáo dục, phương tiện giáo dục. Quản lý nhà trường * Nhà trƣờng Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển xã hội” [22, tr.3] Tại khoản 2, điều 48, Luật giáo dục 2005 đã khẳng định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục.15] Như vây, nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo bài bản về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại.