Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử tại trường THPT theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử tại các trường THPT huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử tại các trường THPT huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HỌC SINH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực và phẩm chất học sinh Có một loạt các nghiên cứu và công bố về dạy học phát triển năng lực và phẩm chất học sinh, như: Tác giả Nguyễn Hữu Châu (2005) trong cuốn “Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”nghiên cứu về mối quan hệ của GV với chất lương GD đã chỉ ra những năng lực cơ bản mà người GV cần có, đó là: Năng lực chẩn đoán; năng lực đáp ứng; năng lực đánh giá; năng lực thiết lập mối quan hệ thuận lợi với người khác, nhất là với học sinh; năng lực triển khai chương trình GD; và năng lực đáp ứng trách nhiệm với xã hội. [8] Trong bài viết “Đào tạo giáo viên theo định hướng năng lực” đăng trên Tạp chí giáo dục, Phạm Hồng Quang (2009) đưa ra các năng lực của năng lực sư phạm gồm 5 năng lực thành phần cơ bản và để đáp ứng yêu cầu trong xã hội hiện đại, giáo viên còn cần bổ sung những năng lực mới như: năng lực quan hệ cộng đồng, năng lực phát triển môi trường xung quanh,. [28] Tháng 4 năm 2014 Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà nội tổ chức Hội thảo khoa học về chất lượng GD và chất lượng đào tạo GV trong bối cảnh hiện nay, các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Đặng Xuân Hải … đã có nhiều tham luận đề cập đến việc đào tạo, BD ĐNGV cho các nhà trường trước yêu cầu mới.
Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung trong đề tài cấp Bộ “Biện pháp đổi mới đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học sư phạm đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông thời kỳ mới” (2014), đã nêu rõ yêu cầu về năng lực sư phạm đối với sinh viên tốt nghiệp Đại học sư phạm. Theo tác giả, năng lực cốt lõi, cần thiết giúp người giáo viên thực hiện các chức năng, vai trò, nhiệm vụ GD, đáp ứng các yêu cầu của nhà trường phổ thông hiện nay gồm có: (1) Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi 7 trường giáo dục; (2) Năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch DH; (3) Năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục; (4) Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức học sinh; (5) Năng lực phát triển nghề nghiệp. [11] Bernd Meier đã nghiên cứu những năng lực cơ bản mà mỗi GV đều phải có được gọi là năng lực hạt nhân nòng cốt như: năng lực dạy học; năng lực GD; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. [20] Tác giả Nguyễn Như An, Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2019) trong bài “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” đã nhận định: có thể nói, phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của đội ngũ GV hiện nay còn có một khoảng cách đáng kể và chưa sẵn sàng cho việc đổi mới chương trình GDPThiện nay.
Đại bộ phận có phẩm chất công dân tốt, có tinh thần trách nhiệm, kiên trì, vượt khó vì sự nghiệp GD, đặc biệt là GV ở các vùng khó khăn; Do nhiều khó khăn của cuộc sống, do áp lực của công việc nên có một bộ phận không nhỏ GV chưa thực sự tâm huyết với nghề, muốn đổi sang nghề khác nếu có điều kiện. Tuy nhiên, đại đa số nắm được tinh thần, yêu cầu, logic của nội dung dạy học, song kiến thức chỉ mới dừng lại chủ yếu ở sách giáo khoa, chưa nắm vững tính chỉnh thể của chương trình; hiểu biết về ứng dụng của tri thức môn học còn rất hạn chế, năng lực phát triển chương trình GD còn hạn chế. Phương pháp dạy học, năng lực đánh giá kết quả GD,… còn hình thức, phiến diện, “sức ỳ” còn lớn, thói quen dạy học cũ vẫn chưa khắc phục được nhiều; Nhận thức về chức năng, nhiệm vụ chủ yếu mới dừng lại ở vai trò người dạy, một hoặc một số môn học, chưa lưu tâm thực sự đến việc “dạy chữ để dạy người”, chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò và trách nhiệm của nhà GD, chưa làm tròn vai trò của nhà giáo - nhà hoạt động xã hội. [1, tr 1-4] Bài viết của nhóm tác giả Phan Thị Thanh Thảo, Đinh Thị Thanh Huyền (2022) trong bài “Mối liên hệ giữa kinh nghiệm và năng lực của giáo viên với thói quen tham gia các hoạt động phát triển chuyên môn”, dựa trên số lượng khảo sát trực tuyến của 464 giáo viên, bao gồm 120 giáo viên nữ và 344 giáo viên nam tại các trường phổ thông tại Việt Nam nhằm nâng cao hiểu biết về thói quen tham gia của giáo viên vào quá trình phát triển chuyên môn (Continuous Professional 8 Development - CPD) thông qua việc điều tra vai trò của số năm kinh nghiệm giảng dạy và năng lực của họ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở mỗi mức độ kinh nghiệm và năng lực khác nhau, giáo viên có thói quen phát triển chuyên môn khác nhau. [30] Như vậy, các nghiên cứu về giáo viên phổ thông cần được tiếp tục để làm rõ hơn cơ sở khoa học của vấn đề giáo viên cần được chuẩn bị như thế nào để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tại từng địa phương. Các nghiên cứu về quản lý dạy học môn học theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh Lê Hoàng Hà (2013) trong Luận án Tiến sỹ Quản lý Giáo dục về “Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá ở trường trung học phổ thông Việt Nam hiện nay” trình bày những vấn đề lý luận trong đổi mới dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá ở nhà trường THPT và điều tra về thực tiễn QLDH theo quan điểm DHPH tại các nhà trường THPT trên các địa phương đã đưa ra thực trạng một số bất cập về QLDH theo quan điểm DHPH tại một số nhà trường THPT hiện nay. [12] Tác giả Trần Văn Lâm (2018) trong Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục: “Quản lý dạy học môn Hóa học theo hướng phân hóa ở trường THPT” đã đề xuất biện pháp quản lý dạy học môn Hóa hóa theo hướng phân hóa ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương nhằm góp phần phát triển năng lực học sinh.
Tập trung vào quản lý dạy học môn Lịch sử theo Chương trình GDPT 2018 có một loạt các nghiên cứu như: Phạm Thị Thanh Thủy (2018) trong bài viết “Thực trạng quản lý hoạt động dạy học bộ môn Lịch sử ở các trường trung học phổ thông tại thành phố Nam Định trong bối cảnh thực hiện đổi mới giáo dục” đã triển khai nghiên cứu ở 04 trường THPT công lập trên địa bàn TP. Nam Định, gồm THPT Trần Hưng Đạo, THPT Nguyễn Khuyến, THPT Nguyễn Huệ và THPT Ngô Quyền với 478 khách thể khảo sát là cán bộ quản lý (14), giáo viên (GV) môn Lịch sử (14), học sinh (HS) (450) vào tháng 6/2018. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có tới 70% CBQL được khảo sát còn nhận thức chưa đầy đủ, 10% CBQL có nhận thức rất hạn chế về vị trí, vai trò của môn học trong chương trình giáo dục phổ thông. Thực trạng này là cơ sở để đưa ra các biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL về vị trí vai trò của môn Lịch sử 9 trong các trường THPT, góp phần nâng cao chất lượng bộ m ôn với các biện pháp về quản lý hoạt động dạy của giáo viên, quản lý hoạt động học của học sinh và quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học của cán bộ quản lý các nhà trường.
[31, tr 16-20] Dương Thị Hào (2018) trong Luận văn Thạc sỹ QLGD “Quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”, đã chỉ rõ uản lý hoạt động dạy học môn lịch sử ở trường trung học cơ sở là quản lý hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò và các điều kiện hỗ trợ. Trong đó quản lý hoạt động dạy của thầy bao gồm: quản lý mục tiêu, chương trình, kế hoạch dạy học; phân công giảng dạy; quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp; quản lý giờ trên lớp của giáo viên; việc đổi mới phương pháp dạy học; việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; sinh hoạt tổ chuyên môn; việc bồi dưỡng giáo viên; sinh hoạt ngoại khóa bộ môn. Quản lý hoạt động học của học sinh bao gồm: quản lý mục đích, động cơ học tập; nội dung, phương pháp học tập và việc tự học của học sinh. Để quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử có hiệu quả thì cần có những biện pháp quản lý thiết thực và hợp lý của Hiệu trưởng để giáo viên và học sinh ngày càng hứng thú hơn trong giảng dạy và học tập bộ môn.
Kết quả cho thấy, việc quản lý mục tiêu, chương trình, kế hoạch dạy học; phân công giảng dạy; quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp; quản lý giờ trên lớp của giáo viên, sinh hoạt tổ chuyên môn lịch sử đuộc thực hiện khá tốt.