Mở đầu, do khuôn khổ của một luận văn, học viên chỉ đề cập các chín nội dung sau: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, SDĐ đai là tạo ra hành lang pháp lý để cho các cơ quan QLNN và những người SDĐ thực hiện. Luật quy định những nguyên tắc lớn, chính sách quan trọng và giao cho Chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố thuộc trung ương quy định tiếp những chính sách cụ thể phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng vùng, miền. UBND cấp huyện ban hành các quy định về quản lý SDĐ theo thẩm quyền như quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ cho gia đình, hộ cá nhân, cộng đồng dân cư trên địa bàn.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Theo Điều 36, Luật Đất đai 2013, Hệ thống quy hoạch, kế hoạch SDĐ gồm có: 1. Quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp quốc gia. Quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp tỉnh. Quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp huyện.
Quy hoạch, kế hoạch SDĐ quốc phòng. Quy hoạch, kế hoạch SDĐ an ninh. Theo Điều 37, Luật Đất đai 2013, Kỳ quy hoạch, kế hoạch SDĐ gồm: 1. Kỳ quy hoạch SDĐ là 10 năm.
Kỳ kế hoạch SDĐ cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch SDĐ quốc phòng, đất an ninh là 05 năm. Kế hoạch SDĐ cấp huyện được lập hàng năm. Trong công tác QLNN về đất đai, công tác quy hoạch, kế hoạch SDĐ là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu. Vì vậy, Luật Đất đai 2013 quy định “Nhà nước QLĐĐ theo quy hoạch và pháp luật”, đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong QLNN về đất đai.
18 Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý, là căn cứ và là điều kiện bắt buộc để thực hiện việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ, kiểm soát các diễn biến về đất đai từ đó ngăn chặn được việc SDĐ sai mục đích, lãng phí, giúp cho việc SDĐ một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Ngoài ra quy hoạch còn là công cụ để phân bổ nguồn lực đồng đều ở các vùng miền trong cả nước. Một quy hoạch tốt cần đảm bảo tính chiến lược và thực thi. Trong công tác thực thi cần tuân thủ theo các nội dung đã quy hoạch, hạn chế tối đa việc điều chỉnh, bổ sung.
Tuy nhiên, không được lạm dụng quy hoạch, kế hoạch hóa vì dễ dẫn đến tình trạng hành chính hóa các quan hệ về đất đai, điều này trái với sự vận động của nền kinh tế thị trường. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Giao đất, cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền SDĐ bằng quyết định hành chính, bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu SDĐ. Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi lại quyền SDĐ hoặc thu lại quyền SDĐ đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai. Chuyển mục đích SDĐ là việc Nhà nước cho phép tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang SDĐ chuyển mục đích sử dụng từ loại đất này sang mục đích sử dụng loại đất khác.
Hiện nay, Nhà nước ta đang áp dụng hình thức giao đất có thu tiền và không thu tiền, giao đất sử dụng có thời hạn và đất sử dụng lâu dài. Trong giao đất có thu tiền có thể thu theo giá Nhà nước quy định hoặc thông qua đấu giá quyền SDĐ (giá sàn không được thấp hơn giá nhà nước quy định). Đối với thuê đất thì có thể trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả một lần cho cả thời gian thuê. 19 Hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ áp dụng cho các đối tượng sau: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nuôi trồng thủy sản, làm muối được Nhà nước giao đất trong hạn mức quy định; Cộng đồng dân cư SDĐ nông nghiệp.
Hình thức giao đất có thu tiền SDĐ áp dụng cho các đối tượng sau: Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở. Nhà nước cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất để sử dụng, để sản xuất kinh doanh theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc giao đất, cho thuê đất phải nằm trong hạn mức được quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
Trong quá trình phát triển đất nước, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng để phát triển kinh tế xã hội là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất. Bởi vậy, Nhà nước đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất. Luật Đất đai 2013, mà cụ thể là Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ đã đặc biệt quan tâm tới sinh kế của người có đất bị thu hồi thông qua cơ chế bồi thường bằng đất, bằng tiền, quy định hỗ trợ ổn định cuộc sống tại nơi tái định cư, nâng mức bồi thường đất nông nghiệp, chú trọng hỗ trợ chuyển đổi đào tạo nghề cho người có đất bị thu hồi. Ngoài ra, việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất phải đảm bảo dân chủ, công khai, đúng pháp luật trong quá trình thực hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, sẽ giúp người dân được tham gia trực tiếp bàn bạc những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng.
Việc công khai minh bạch và dân chủ là một trong những giải pháp quan trọng để phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đất đai nói chung và bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất nói riêng. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Đây là biện pháp giúp Nhà nước theo dõi tình hình SDĐ và biến động thường xuyên của đất đai, đồng thời thiết lập quyền SDĐ hợp pháp của người SDĐ, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để người SDĐ và các cơ quan QLĐĐ thực hiền đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Công tác đăng ký quyền SDĐ được tiến hành với các chủ SDĐ trên địa bàn, không phân biệt chủ sử dụng và nguồn gốc sử dụng. Nội dung công tác nhằm thống kê và quản lý toàn bộ quỹ đất hiện đang được quản lý và sử dụng trên địa bàn huyện.
Đăng ký đất đai là quyền và nghĩa vụ của người SDĐ, là công cụ giúp nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ tài nguyên đất đã giao cho chủ SDĐ. Thông qua đó nhà nước sẽ tiến hành các biện pháp QLĐĐ có hiệu quả và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ. Giấy CNQSDĐ là chứng thư pháp lý công nhận quyền SDĐ hợp pháp của người SDĐ, là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về quyền SDĐ, cũng là điều kiện để người SDĐ yên tâm sản xuất, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất Quản lý tài chính về đất đai và giá đất là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác QLNN về đất đai bao gồm quản lý về giá đất và các nguồn thu ngân sách từ đất.
Quản lý tài chính về đất đai được thực hiện theo nguyên tắc tài chính của Nhà nước. Các chính sách về giá đất trong thời gian vừa qua liên tục được điều chỉnh, theo hướng hoàn thiện và tiếp cận cơ chế thị trường, góp phần chuyển biến tích cực trong QLNN về đất đai, từng bước phát huy nguồn lực này cho phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở để giải quyết tốt hơn quyền lợi của 21 người có đất bị thu hồi, đồng thời góp phần hạn chế tham nhũng trong quản lý và SDĐ. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm quản lý chặt chẽ, khắc phục kịp thời những sai sót, vi phạm trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người SDĐ. Các cơ quan QLNN về đất đai phải có cơ chế giám sát, kiểm tra chấp hành các quy định về SDĐ.
Đây là tổng hợp các biện pháp về cơ chế, chính sách và áp dụng cả tiến bộ khoa học kỹ thuật, buộc đối tượng SDĐ phải tuân thủ, đồng thời hạn chế được quan liêu, nhũng nhiễu thậm chí là tiêu cực của cán bộ, công chức, giúp người dân khai thác và sử dụng hiệu quả cao nhất diện tích mà nhà nước giao quyền sử dụng. Theo Điều 166, 167, 168, 169, 170, 171, 172 Luật Đất đai 2013, quy định rất chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ, từ đó làm cơ sở cho cơ quan tài nguyên và môi trường các cấp hướng dẫn quyền và nghĩa vụ cho người SDĐ. Các cơ quan QLNN về đất đai phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, công khai, minh bạch các loại hồ sơ, thủ tục, quy trình thực hiện, phí, lệ phí. Thanh tra, kiểm tra, giám sát theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai của người sử dụng đất và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai Đây là một nội dung thể hiện chức năng kiểm tra, giám sát của nhà nước đối với quản lý SDĐ.
Thanh tra đất đai nhằm đảm bảo cho việc quản lý SDĐ được tuân thủ theo đúng pháp luật. Quá trình thanh tra, kiểm tra ngoài việc phát hiện các sai phạm để xử lý còn có tác dụng chấn chỉnh lệch lạc, ngăn ngừa những sai phạm có thể xảy ra. Ngoài ra, cũng có thể phát hiện những điều bất hợp lý trong chủ trương, chính sách, pháp luật để kiến nghị bổ 22 sung, chỉnh sửa kịp thời. Việc này có thể thực hiện thường xuyên hoặc đột xuất, có thể có hoặc không có dấu hiệu vi phạm.