Chương 1: Cơ sở lý luận về QLĐT của trường CĐN theo tiếp cận ĐBCL. Chương 2: Thực trạng QLĐT của trường CĐN. Chương 3: Các giải pháp QLĐT của trường CĐN theo tiếp cận ĐBCL. Kết luận và khuyến nghị: Nêu các kết luận chung và các ý kiến đề xuất nhằm QLĐT theo tiếp cận ĐBCL của trường CĐN.
Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả có liên quan đến nội dung của luận án, tài liệu tham khảo và các phụ lục. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề chất lượng giáo dục nói chung và CLĐT nói riêng là một trong những quan tâm lớn của các nền giáo dục trên thế giới và Việt Nam hiện nay. Đảm bảo chất lượng đào tạo của các cơ sở ĐT nói chung cũng như ở trường CĐN nói riêng và việc QLĐT theo tiếp cận ĐBCL đang là một xu hướng được các tác giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm.
Đây là những vấn đề liên quan căn bản đến đề tài nghiên cứu, giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể, phù hợp trong việc lựa chọn các mô hình, quy trình, phương pháp đánh giá cho phù hợp với việc QLĐT tại trường CĐN theo tiếp cận ĐBCL. Chính vì vậy, thông qua tổng quan nghiên cứu các mô hình quản lý GD - ĐT của các cơ sở ĐT trong nước, nước ngoài, của các nghiên cứu đã đi trước, chúng tôi sẽ có căn cứ luận cho việc đề xuất giải pháp QLĐT tại trường CĐN theo tiếp cận ĐBCL. Những nghiên cứu về quản lý đào tạo nghề ở trường cao đẳng 1. Ngoài nước Theo tác giả Trần Kiểm, ở Trung Quốc [47], Uỷ ban Giáo dục nhà nước Trung Quốc là cơ quan Trung ương quản lý giáo dục ở mọi cấp bậc, việc lập kế hoạch, phát triển, quản lý có phối hợp quản lý của các bộ ngành, các ngành nghề liên quan để sát chuyên môn, tăng hiệu quả đào tạo.
Như vậy QLĐT nghề cũng do bộ phận này phụ trách. John Dewey (1859) - Mỹ [24], ông đưa ra một luận điểm khá quan trọng: Mục đích của giáo dục nhà trường là đảm bảo quá trình GD liên tục bằng cách tổ chức các hoạt động tích cực của người học, xu hướng học tập từ cuộc sống và chủ động tạo dựng nên điều kiện sống chính là sản phẩm tốt nhất từ hoạt động giáo dục nhà trường. Trong “Lý thuyết về nền sư phạm” ông đã đề cập đến khái niệm “Giáo dục”, các thành tố căn bản của chương trình dạy học, phương pháp dạy học, vị trí của người giáo viên. Ông đã đưa ra các lý thuyết và nguyên tắc giáo dục: Giáo dục là cuộc sống, nhà trường là xã hội, lấy người học làm trung 8 tâm.
Đó là những quan điểm QLĐT khá cởi mở, hiện đại và tiến bộ cần được phát huy. Theo nghiên cứu của Trần Kiểm - Nguyễn Xuân Thức, ở Pháp [47], có thể đi đến nhận định, hầu hết các trường đào tạo nghề công lập đặt dưới sự bảo trợ của Bộ quốc gia giáo dục. Hội đồng quốc gia giáo dục bao gồm các đại biểu giáo viên và sinh viên các trường và các nhân vật bên ngoài, Hội đồng tư vấn cho các bộ trưởng tất cả các vấn đề liên quan đến giáo dục đại học. Như vậy, họ QLĐT trên cơ sở dựa vào ý kiến của Hội đồng chuyên trách về ĐT, sức mạnh của Hội đồng quốc gia sẽ tạo ra sự thống nhất trên cơ sở thảo luận kỹ lưỡng các vấn đề liên quan đến QLĐT của cơ sở ĐT họ phụ trách, Theo Trần Kiểm - Nguyễn Xuân Thức, ở Nga [47], QLĐT trên cơ sở thống nhất chuẩn giáo dục của nhà nước đối với mọi hình thức, các cơ sở đào tạo đại học được quyền tự trị, sự khác nhau giữa công lập và tư thục là nguồn tài chính và sở hữu.
Như vậy việc tự chủ và căn cứ theo chuẩn chung là cách quản lý đào tạo đáng được lưu tâm, tạo sự năng động, hướng tới chất lượng của các cơ sở đào tạo nhằm đạt yêu cầu của các cấp quản lý và thực tiễn xã hội. Nghiên cứu này cho thấy, việc quản lý giáo dục, đào tạo các trường nghề ở Nga tập trung tại một cơ quan Tổng vụ giáo dục chuyên trách, có phân cấp tới các bộ chức năng nhằm sát sao về lĩnh vực đào tạo, chịu ảnh hưởng của Hội đồng quốc gia có sự tham gia trực tiếp của các chủ thể tại các cơ sở đào tạo nhằm đảm bảo tính dân chủ và có các quyết sách trong quản lý đào tạo sát thực tế. Theo Trần Kiểm - Nguyễn Xuân Thức, ở Hoa Kỳ [47], các trường nói chung, trường đào tạo nói riêng đều hoạt động theo nguyên tắc tự quản và tự do về học thuật, bộ phận quản lý cao nhất của một trường là ban quản trị mà các thành viên bên ngoài trường thuộc giới chuyên môn về tài chính, công nghiệp. Các nhà quản lý thường tiến hành khảo sát tại các trường để xác định các vấn đề căn bản mà cấp giáo dục phải đương đầu để có những hiệu chỉnh phù hợp.
Như vậy, tại Hoa Kỳ họ coi trọng tự do học thuật trong quản lý đào tạo, có sự kết hợp giữa Ban Quản trị nhà trường với giới chuyên môn liên quan đến chuyên ngành 9 đào tạo nhưng có nguyên tắc, có khảo sát thường xuyên và chi phối các nguồn lực đầu tư cho cơ sở đào tạo một cách có căn cứ, tạo chiều sâu và hiệu ứng kép trong QLĐT. Như vậy, điểm qua các nghiên cứu về QLĐT trường nghề nói chung, CĐN nói riêng ở nước ngoài cho chúng ta ít nhiều những gợi ý trong việc chắt lọc để lựa chọn những kinh nghiệm góp phần định hình trong QLĐT trường CĐN nhằm đạt những hiệu quả cao hơn trong công tác QLĐT. Trong nước Tác giả Trần Kiểm [48] với “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục” đã đề cập đến “Tiếp cận phức hợp”, khi đó nhà quản lý đào tạo nhìn nhận đối tượng quản lý như một chỉnh thể, các thành tố trong quá trình QLĐT gắn bó hữu cơ, tương tác lẫn nhau nên quản lý cũng cần có cái nhìn biện chứng, chất lượng ở đây là chất lượng tổng thể, có chăng các thành tố chủ đạo trong đào tạo sẽ cần được đầu tư, coi trọng cải tiến đúng mức nhằm đạt được chất lượng những mục tiêu. Tiếp đó tác giả đề cập đến tiếp cận “Quản lý dựa vào nhà trường [48], quản lý dựa vào nhà trường (SBM), khi đó người dạy, người học được tham gia một cách dân chủ vào việc quản lý, quyết định những vấn đề liên quan đến cơ sở đào tạo, SBM có hai tính chất cơ bản: Tăng quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo về ngân sách, nhân sự, chương trình dạy học; Cơ sở đào tạo là cơ sở có quyền ra quyết định, giải quyết các vấn đề nảy sinh ngay tại chỗ với số tham gia đông đảo của các thành viên liên quan.
Việc quản lý đào tạo theo tiếp cận tăng quyền tự chủ của các sở đào tạo là một xu thế mới, hiện đại và đang được các nước trên thế giới vận dụng, ở Việt Nam những thập niên gần đây cũng đã áp dụng phương thức này và góp phần nâng cao hiệu quả, phát triển cơ sở đào tạo theo tiếp cận trách nhiệm, hiệu quả và khẳng định vị thế rõ nét. Những nghiên cứu về đảm bảo chất lượng đào tạo nghề 1. Ngoài nước Cuối năm 1970, Deming đã công bố các nghiên cứu tại Mỹ đề xuất về mô hình lý thuyết QLCL. Trong đó, cốt lõi là 14 luận điểm nhằm quản lý cải tiến 1 chất lượng.
Sau đó, Cropbyk, Peter và Waterman đã phân tích nhiều giả thuyết khác nhau trong cuốn sách có tên “Tìm kiếm sự xuất sắc” (Search for Excellence - 1982) và đã đi tới một kết luận cơ bản về sự thành công của người Nhật là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng (Customer Satisfaction is Everything). Kết luận này có giá trị rất quan trọng và thúc đẩy sự ra đời của rất nhiều sáng kiến có giá trị ở nước Anh như: hình thành chất lượng quốc gia, thành lập hội chất lượng Anh vào năm 1981, sách trắng của Chính phủ Anh với tiêu đề “Chuẩn chất lượng và sự cạnh tranh quốc tế” xuất bản năm 1982. Đến năm 1991, nước Anh đã quan tâm đến việc nghiên cứu hệ thống QL chất lượng tổng thể cho ngành giáo dục nói chung, GDĐH và giáo dục thường xuyên nói riêng. Theo Deming một lý thuyết về QLCL bao gồm một bộ quy tắc sau đây: - Công việc BĐCL diễn ra trong sự hợp tác giữa sinh viên và nhà quản lý.
- Công việc được cùng nhau xác định bởi các sinh viên, cán bộ giảng dạy. - Năng lực của cán bộ giảng dạy đối với BĐCL là một phần không thể thiếu trong hoạt động của trường ĐH. - Các khách hàng bên ngoài được tham gia vào việc phát triển về công tác BĐCL, bao gồm cả việc sử dụng những người thẩm tra bên ngoài. - Công tác BĐCL đặc trưng bởi quyết tâm hợp tác, cởi mở và minh bạch.
- Công tác BĐCL phải hỗ trợ chủ động, có hệ thống và liên tục thúc đẩy chất lượng xuyên suốt cả lĩnh vực giáo dục. - Công tác BĐCL là toàn diện đầy đủ tuân theo yêu cầu của pháp luật đối với minh chứng (bao gồm cả kiểm định). Chủ động trong việc BĐCL và dựa vào việc phát triển năng lực và một nền văn hóa chất lượng. - Công tác BĐCL phù hợp với hoạt động và các quy định hiện hành của pháp luật, bao gồm hoạt động kiểm định dựa trên tiêu chuẩn về sự phù hợp và chất lượng của chương trình ĐH.
- Công tác BĐCL phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế được quy định trong các tiêu chuẩn và hướng dẫn của ENQA. - Tất cả các giai đoạn của BĐCL được dựa trên cơ sở bánh xe chất lượng được mô tả hoạt động liên tục di chuyển theo một quá trình bao gồm: 1 + Xây dựng các mục tiêu hoạt động, lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực; + Thực hiện hoạt động; + Đánh giá về hoạt động; + Phân tích, theo dõi và xem xét lại mục tiêu và những thay đổi của thực tiễn. - Điều kiện để công việc BĐCL thành công, là phải có hệ thống các mục tiêu cụ thể được giải thích, xác định và thực hiện bởi những người tham gia ở mọi cấp của tổ chức.