Chương I, Luật Dạy nghề 2006: “Đào tạo nghề là ho ạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [20]. Như vậy, đào tạo nghề là hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công vi ệc hi ện t ại và 10 trong tương lai. Đào tạo nghề là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình đ ộ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thuần thục nhất định về nghề nghiệp; học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Đào tạo nghề là một quá trình tác động có mục đích, có ý th ức c ủa con người nhằm phát triển tay nghề và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (thể hiện trên hai mặt: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp), phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia.
Nói cách khác, đào tạo nghề là một lĩnh vực hoạt động lao đ ộng, được đào tạo mà con người có được những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh th ần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc, mà nó cũng có một quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong. Vì thế, bên cạnh việc được lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình đào tạo mà người học còn cần phải nắm vững, trau dồi và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo đã được học trong khi làm vi ệc thực tế. Người khuyết tật Mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa và tư tưởng khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau về NKT.
Các thuật ngữ để chỉ tình trạng khuy ết t ật cũng rất nhiều như: Tàn tật, tật nguyền, tàn phế, khuyết tật, thiểu năng trí tuệ, dị dạng,… Nhưng chỉ có các thuật ngữ tàn tật và khuyết tật đ ược sử dụng một cách chính thức trong văn kiện, văn bản pháp lu ật, sách báo, phương tiện thông tin đại chúng; các thuật ngữ còn l ại th ường đ ược s ử dụng trong giao tiếp văn nói hàng ngày. Với sự tiến bộ của khoa h ọc kỹ thuật và sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, người ta đã có sự quan 11 tâm hơn, những nghiên cứu sâu rộng hơn về NKT, thì thuật ngữ “người khuyết tật” đã được thay thế thuật ngữ “người tàn tật” trong các văn kiện, tài liệu. Điều này thể hiện sự tôn trọng, tính nhân văn và cách nhìn tiến bộ hơn đối với NKT. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chia ra thành các thu ật ng ữ và đ ịnh nghĩa sau: “khuyết tật” là sự khiếm khuyết, giảm sút hoặc rối loạn cơ cấu tổ chức hay một chức năng tâm lý, sinh lý, giải phẫu; “tàn tật” hay “mất khả năng” là bất kỳ một sự hạn chế hay thiếu hụt (do khuyết t ật) kh ả năng thực hiện một hoạt động theo chức năng hay trong phạm vi đ ược coi là bình thường của con người; “tàn phế” là sự mất mát, thiệt thòi cho một cá nhân do khuyết tật hoặc do tàn tật, khiến cho người đó không th ực hi ện được một phần hay toàn bộ công việc được coi là bình thường (theo tu ổi tác, giới tính, các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã h ội…).
Đi ều 2 c ủa Pháp lu ật nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết t ật năm 1990: “người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc m ột ph ần kh ả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường” [24]. Bộ luật Xã hội của Cộng hòa Liên Bang Đức (sách số chín) đ ịnh nghĩa: “người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng đ ộ tu ổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân d ẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào đời sống xã hội”[7]. Theo Điều 2, Luật Người khuyết tật của Việt Nam: “người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh ho ạt, học tập gặp khó khăn” [22]. 12 Phân loại khuyết tật Phân loại NKT có ý nghĩa rất lớn trong quá trình đánh giá và h ỗ tr ợ cho NKT.
Theo điều 3, Luật Người khuyết tật Việt Nam thì khuyết tật được phân loại như sau: (1). Khuyết tật vận động; (2). Khuyết tật nghe, nói; (3). Khuyết tật nhìn; (4).
Khuyết tật thần kinh, tâm thần; (5). Khuyết tật trí tuệ; (6). Khuyết tật khác. Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, ngày 10-4-2012 của Chính phủ có phân loại và định nghĩa như sau: (1).
Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất ch ức năng c ử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất kh ả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối lo ạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.
Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, h ọc t ập g ặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp nêu trên [8]. Tâm lý người khuyết tật Người khuyết tật có một số biểu hiện tâm lý: Về mặt sinh học, NKT là người bị khiếm khuyết một hay nhi ều b ộ phận cơ thể, hoặc có những rối loạn về tâm sinh lý hay một chức năng nào đó của con người do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính sự khi ếm khuyết đó đã làm cho NKT bị hạn chế về sức khỏe, kém khả năng chống lại các dịch bệnh và gặp nhiều khó khăn trong giao ti ếp, v ận đ ộng.
Cũng vì những điều đó nên NKT gặp khó khăn trong nhận thức môi tr ường xung quanh, đồng thời phản ứng của môi trường xung quanh ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của NKT. Mối liên hệ này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển về thể chất, tâm lý và khả năng học nghề của NKT. Đa số NKT sống trong nghèo khổ, ít có điều kiện và khả năng tự bảo vệ và chăm sóc s ức khỏe bản thân, cho nên, NKT là những người cần có sự quan tâm chăm sóc của các tổ chức y tế để phục hồi sức khỏe, vượt qua bệnh tật. Đối với NKT, yếu tố tâm lý còn có một ý nghĩa to lớn góp ph ần thúc đẩy NKT vượt qua trở ngại của bản thân và vươn lên tự khẳng định mình trong cuộc sống nếu được sự trợ giúp kịp thời từ người thân và xã hội vì họ luôn mang tâm lý như: Tự ti, phó mặc, chấp nh ận cuộc s ống khép kín, nóng giận, trách đời, trách mình từ đó dẫn đến hành động gây h ại cho người khác hoặc gây hại cho chính bản thân mình; luôn có nhu c ầu ho ạt động và tâm lý sẽ thay đổi để phù hợp với thực trạng mà họ đang tiếp xúc; 14 có khi chức năng của một cơ quan bị suy giảm hay bị mất hoàn toàn thì lập tức có sự gia tăng điều chỉnh của các giác quan khác đ ể h ỗ tr ợ ho ặc thay thế chức năng bị thiếu hụt hay bị mất.
Hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật Theo Điều 68, Luật Dạy nghề: “Đào tạo nghề cho người khuyết t ật nhằm giúp họ có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng” [20]: - Hoạt động đào tạo nghề cho NKT diễn ra trong m ối quan h ệ gi ữa hoạt động dạy và học; - Mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho NKT là trang bị cho NKT những điều kiện để họ thực hiện một nghề theo sự phân công lao động xã hội. Đó là hệ thống các kiến thức nghề nghiệp (gồm kiến thức chung và kiến thức chuyên biệt); các kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp và thái độ đối với nghề nghiệp (say mê, yêu nghề, tâm huyết với công việc,…); - Việc đào tạo nghề cho NKT phải phù hợp với đặc điểm c ủa đ ối tượng đào tạo là NKT. Khoản 1, điều 5, Luật Dạy nghề 2006 quy định: “Đào tạo ngh ề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái đ ộ ngh ề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [20]. Đào tạo ngh ề giúp cho người học nghề nắm bắt được những kiến thức chuyên sâu về ngành nghề mình đang học, tạo điều kiện cho người học nghề tiếp cận những kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại.
Khi NKT được tham gia h ọc ngh ề và làm 15 việc, họ sẽ trở nên tự tin hơn, thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn và điều quan trọng nhất là họ tự mình làm việc, có thu nhập để trang trải trong cu ộc sống. Để NKT có cơ hội hòa nhập với cộng đồng thì không gì thiết thực hơn là tạo điều kiện cho họ tự lực, cho dù họ có khuy ết t ật gì trên thân th ể thì họ vẫn có thể làm được những công việc phù hợp với khả năng và s ức khỏe, thậm chí có nhiều NKT còn đạt được những thành tích xuất sắc và có vị trí cao trong xã hội.