Chương I, Luật Dạy nghề: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Luan van 18 Trong “Bách khoa toàn thư Việt Nam”, khái niệm đào tạo nói chung là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người. Mác, công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần: một là, giáo dục trí tuệ; hai là, giáo dục thể lực, như trong các trường thể dục thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự; ba là, dạy kỹ thuật nhằm giúp người học nắm vững những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất. Theo giáo trình Kinh tế lao động của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày như sau: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định”.
Như vậy, đào tạo nghề là một quá trình tác động có mục đích, có ý thức của con người nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân cách) của họ (thể hiện trên 2 mặt: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp), phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia. Nói cách khác, đào tạo nghề là một lĩnh vực hoạt động mà ở đó, nhờ được đào tạo con người có được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc, mà nó cũng có một quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong. Vì thế, bên cạnh việc được lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình đào tạo, con người cần phải nắm vững nó, trau dồi và phát triển nó trong cuộc sống.
Luan van 19 Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, con người cần phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm… Đối với người khuyết tật, vấn đề này càng phải được quan tâm nhiều hơn, nhất là tạo điều kiện cho họ vươn lên, làm chủ bản thân, hòa nhập cộng đồng, sống có ý nghĩa, giảm bớt phần nào nỗi lo của gia đình và gánh nặng của xã hội; đồng thời, khắc phục được tư tưởng bi quan, tiêu cực. Theo Điều 68, Luật Dạy nghề: “Đào tạo nghề cho người khuyết tật nhằm giúp họ có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng”. Như vậy, Điều 68, Luật Dạy nghề chủ yếu đề cập đến mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật.
Từ đây có thể thấy một số dấu hiệu sau: - Hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật diễn ra trong mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học; - Mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật là trang bị cho người khuyết tật những điều kiện để họ thực hiện một nghề theo sự phân công lao động xã hội. Đó là hệ thống các kiến thức nghề nghiệp (gồm kiến thức chung và kiến thức chuyên biệt); các kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp và thái độ đối với nghề nghiệp (say mê, yêu nghề, tâm huyết với công việc,…); - Việc đào tạo nghề cho người khuyết tật phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng đào tạo là người khuyết tật (sẽ nêu ở mục 1. Như vậy, có thể khái quát đầy đủ: Đào tạo nghề cho người khuyết tật là hoạt động dạy và học nhằm trang bị cho người khuyết tật kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp cần thiết, phù hợp với tình trạng khuyết tật và sức khỏe của người khuyết tật, tạo điều kiện để họ có thể tìm được việc làm Luan van 20 hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. Khái niệm người khuyết tật Trên thế giới, không có quốc gia nào không có người khuyết tật.
Đó là một khiếm khuyết tự nhiên trong quá trình tiến hóa của con người. Đến nay, vẫn chưa có một số liệu thống kê chính xác và thống nhất về tình hình người khuyết tật. Ước tính mỗi năm trên thế giới có thêm gần 10 triệu người khuyết tật và dự đoán đến năm 2035, con số đó sẽ vào khoảng 667 triệu người (theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc Việt Nam - UDNP Việt Nam). Người khuyết tật có nhiều dạng khác nhau, vì vậy cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chia ra thành các thuật ngữ và định nghĩa sau: Khuyết tật (Impairment) là sự khiếm khuyết, giảm sút hoặc rối loạn cơ cấu tổ chức hay một chức năng tâm lý, sinh lý, giải phẫu. Tàn tật hay mất khả năng (Disabilities) là bất kỳ một sự hạn chế hay thiếu hụt (do khuyết tật) khả năng thực hiện một hoạt động theo chức năng hay trong phạm vi được coi là bình thường của con người. Theo Điều 2 của Pháp luật nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về bảo vệ người khuyết tật: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường”. Theo Sách số chín của Bộ luật Xã hội Đức: “Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với Luan van 21 người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào đời sống xã hội”.
Theo Đạo luật Về người khuyết tật của Hoa Kỳ (năm 1990): “Người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động trong cuộc sống”. Theo Điều 2, Luật Người khuyết tật Việt Nam: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Theo Vụ Bảo trợ xã hội (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì “Người tàn tật là người có khuyết tật, không có khả năng tự nuôi sống bản thân, phải dựa vào cộng đồng, người thân và sự trợ giúp của Nhà nước”. Bộ Y tế đã định nghĩa: “Người tàn tật là người có khuyết tật, thể hiện những rối loạn về sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó của con người như nghe, nhìn, vận động, thần kinh,…” * Phân loại khuyết tật: (Theo Điều 3, Luật Người khuyết tật Việt Nam).
a) Khuyết tật vận động; b) Khuyết tật nghe, nói; c) Khuyết tật nhìn; d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; đ) Khuyết tật trí tuệ; e) Khuyết tật khác. Và theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, ngày 10-4-2012 của Chính phủ có phân loại và định nghĩa như sau: 1. Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, Luan van 22 nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói.
Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp nêu trên.
* Tâm lý người khuyết tật: Về mặt sinh học, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể, hoặc có những rối loạn về tâm sinh lý hay một chức năng nào đó của con người do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính sự khiếm khuyết đó đã làm cho người khuyết tật bị hạn chế về sức khỏe, kém khả năng chống lại các dịch bệnh và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, vận động. Cũng vì những điều đó nên người khuyết tật gặp khó khăn trong nhận thức môi trường xung quanh, đồng thời phản ứng của môi trường xung quanh ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người khuyết tật. Mối liên hệ này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển về thể chất, tâm lý và khả năng học nghề của người khuyết tật.
Đa số người khuyết tật sống trong nghèo khổ, ít có điều kiện và khả năng tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Cho nên, người khuyết tật là những người cần có sự quan tâm chăm sóc của các tổ chức y tế để phục hồi Luan van 23 sức khỏe, vượt qua bệnh tật. Giáo dục nói chung và giáo dục trẻ khuyết tật chỉ có thể thực hiện một cách có hiệu quả khi trước hết phải dựa trên những đặc điểm tâm lý của trẻ.