CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT DẠY NGHE CHO NGƯỜI KHUYET TAT 1. Khái niệm người khuyết tật. Định nghĩa người khuyết tật. Trong một thời gian dài, trên thế giới người ta vẫn cho rằng tình trạng bắt lợi, thiệt thòi của NKT là hậu quả không tránh khỏi của sự sút kém về tỉnh thần, thể chất của NKT, đồng thời không thống nhất về cách gọi NKT, sử dụng tùy hứng khái niệm NKT và người tàn tật.
Các điễn đàn quốc tế đưa ra quan điểm NKT chủ yếu dựa trên bốn mô hình: Mô hình từ thiện; Mô hình y tế; Mô hình xã hội và Mô hình dựa vào quyên. - Mô hình từ thiện chỉ ra rang: NKT là nạn nhân của những khiếm khuyết của họ: họ không thể đi lại, nhìn, học tập. làm việc, họ không thể sống một cuộc sống độc lập. Mô hình này hình thành nên sự nhìn nhận về vấn đề khuyết tật trong một thời gian dài, ở khắp mọi nơi trên thế giới, nó khiến mọi người nhìn NKT theo chiều hướng “tội nghiệp”, NKT không phải là một phần xã hội, nếu có họ chỉ liên quan đến một góc của xã hội, liên quan đến một tổ chức đặc biệt được thành lập chỉ để quan tâm giúp đỡ từ thiện cho NKT.
- Mô hình y tế thì coi NKT chi đơn thuần là bệnh nhân cần chăm sóc y tế, nên đối với mô hình này vai trò của NKT cũng là thụ động. Theo logic của quan điểm này thì NKT sẽ bị phân biệt đối xử về thái độ vì họ là người bệnh không phải là người “bình thường”, xã hội sẽ không có cơ sở hạ tầng cũng như công trình công cộng, giao thông vận tải dành cho họ, và đặc biệt là pháp luật không hỗ trợ cho những người khác biệt này. - Mô hình dựa vào quyền: điểm nhắn là quyền con người, mọi người đều có quyên được có cơ hội và sự tham gia ngang nhau trong xã hội. Nêu như chúng ta đều có quyền ngang nhau thì xã hội không thể cho phép có sự tách biệt như trong mô hình từ thiện và y tế.
Xã hội cần phải đảm bảo họ có quyền tiếp cận với tất cả những gì xã hội cung cấp như y tế, giáo dục, cơ hội việc làm, nghề nghiệp và giải trí. Xã hội phải thay đổi, phải thích nghi với NKT, phải nhìn nhận việc giúp NKT tiếp cận mọi lĩnh vực trong đời sống không phải vì lý do nhân đạo mà đó là việc tôn trọng các quyền cơ bản của con người. Các chính sách và quy định của pháp luật Việt Nam trước kia thường nghiêng nhiều về khía cạnh bảo trợ xã hội với đối tượng rủi ro, bất hạnh cần được nâng đỡ và trợ giúp. Định nghĩa NKT tại Việt Nam xuất phát từ Pháp lệnh về người tàn tật được thông qua từ tháng 8/1998 với tên gọi là người tàn tật.
Theo đó: “Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiễu bộ phận cơ thể hoặc chức năng biếu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn ”. Định nghĩa này được coi là khá phù hợp vào thời điểm đó vì trên thế giới cũng như quy định của Liên hợp quốc thì: “Người tàn tật là người mà triển vọng tìm giữ được một việc làm phù hợp, cũng như triển vọng tiến bộ trong nghé nghiệp déu bị giảm sút một cách rõ rệt sau khi bị một trở ngại về thé chất hoặc tinh than và trở ngại này được công nhận đúng mức ” - Khuyén nghị số 09 ngày 01/05/1995. Bên cạnh đó, Điều I Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tan tật (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 116/2004/NĐ-CP ngày 23/4/2004) chỉ ra rằng: “/ao động là người tàn tật là người lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thé hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc co quan y tế có thẩm quyên xác 10 nhận theo quy định của Bộ Y tế”. Tuy nhiên cách gọi người tàn tật hay NKT lại đưa ra rất nhiều quan điểm trái chiều.
Người tàn tật là một từ mang nghĩa rất tiêu cực và bị rất nhiều người thậm chí bản thân những NKT cũng phản đối, họ thích dùng từ NKT vì từ này mang nội hàm tích cực hơn. Do vậy sau một thời gian, NKT và các tô chức phi chính phủ quốc tế đã cô gắng khuyến khích mọi người sử dụng thuật ngữ sau để chỉ những người bị khuyết tật, và bước đầu đã đạt được thành công nhất định. Dựa trên những quan điềm của cộng đồng cũng như của chính những NKT, thế giới đã có chuyển biến tích cực về quan niệm về NKT. Sự thay đổi nay được ghi nhận lần đầu tiên tại Công ước quốc tế về quyền của NKT năm 2006.
Công ước đã xóa bỏ định nghĩa người tàn tật mà thay vào đó là thuật ngữ NKT, theo đó NKT bao gồm: “những người bị suy giảm về thể chất, than kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thé cản trở sự tham gia day đủ và hiệu quả của NKT vào xã hội trên cơ sở bình dang với những người khác” - Điều 1. Văn bản đã có một bước tiễn lớn trong việc đưa thuật ngữ NKT phổ biến trên toàn thế giới, đồng thời giúp mọi người có cái nhìn khách quan hơn cho những đối tượng này. Theo xu hướng quốc tế và phù hợp với văn hóa xã hội, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật NKT ngày 17/06/2010 có hiệu từ từ 01/01/2011, luật này chính thức sử dụng khái niệm NKT thay cho khái niệm người tàn tật. Đây là văn bản luật toàn diện đầu tiên của quốc gia về NKT, điều này đặt một dau méc rat quan trong trong việc nhìn nhận, cách thức sử dung thuật ngữ NKT trong tất cả mọi vấn đề pháp lý cũng như xã hội nhằm đảm bảo tính nhân văn, không gây mặc cảm tự ti cho NKT và sự tránh né kỳ thị của cả cộng đồng với NKT, theo đó NKT được quan tâm nhìn nhận một cách toàn diện ở góc độ y tế, góc độ xã hội và góc độ pháp lý.
Luật NKT đã chỉ rõ NKT được hiểu là: “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiễu bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức 11 năng được biếu hiện dưới dạng tàn tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khan” - khoản 1 Điều 2. Phân loại người khuyết tật. Dé phân loại NKT nói chung và lao động tàn tật nói riêng, có thé dựa vào các tiêu chí sau đây: * Theo nguyên nhân dẫn đến khuyết tật gồm có: Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bam sinh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bệnh tật; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do chiến tranh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do tai nạn lao động; Do những nguyên nhân khác. * Theo tiêu chuẩn phân loại theo khả năng suy giảm, khuyết tật và trở ngại do Tổ chức Y tế thế giới ban hành vào năm 1980, gồm 7 dạng: Suy giảm khả năng van động như bị cut chân, cụt tay, liệt, bại não,.; Suy giảm thính giác/nói (giao tiếp); Suy giảm thị giác bao gồm mù, mù màu,.; Hành vi cư xử xa lạ (thường là do kết quả bệnh thần kinh phân liệt hay chứng loạn thần kinh hay những bệnh tâm thần khác); Chứng động kinh/ngat xiu.' * Theo bộ chỉ số đa mục tiêu: Phản ánh tình hình chung về khuyết tật; Phản ánh nguyên nhân khuyết tật; Phản ánh cơ cấu, địa bàn cư trú của NKT theo địa giới hành chính; Phản ánh theo nhân khẩu học: giới tính, độ tuôi, dân tộc, tình trạng hôn nhân; Phản ảnh theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp; Phản ánh nhu cầu đa dạng của NKT theo nhu cầu trợ giúp.
Các cách phân loại như trên chỉ là tương đối, tùy thuộc vào từng mục đích, sử dụng mà người ta phân loại cho phù hợp. Khái quát pháp luật dạy nghề cho người khuyết tật. Khái niệm về pháp luật dạy nghề cho người khuyết tật. NKT là đối tượng xã hội luôn tồn tại, NKT cũng là một thành phần lao động cơ bản, để họ không phải là gánh nặng của gia đình và xã hội thì dạy * http://vi.org/wiki/Ng%C6%BO%E1%BB%9Di_khuy%E1%BA%BFt_t%E1%BA%ADt 12 nghề cho họ là việc làm hết sức cần thiết, qua đó giúp họ có được việc làm, hỗ trợ, giúp đỡ NKT ôn định cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng là việc làm có ý nghĩa chính tri, kinh tế, xã hội và tính nhân văn sâu sắc.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính cứ mười người thì có một NKT và một phần tư dân số thế giới bị ảnh hưởng bởi khuyết tật, trong khi đó NKT lại ít được học hành, ít được đào tạo nghề nên họ thường gặp khó khăn khi tìm việc, tỷ lệ thất nghiệp cao. Luật dạy nghề 2006 đã chỉ rõ: “Dạy nghề là hoạt động dạy va học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp can thiết cho người hoc nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá hoc” - khoản 1 Điều 5. Hoạt động dạy nghề sẽ giúp người học nghề nam bắt được kiến thức nghề nghiệp , dao tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, địch vụ qua đó hướng tới mục tiêu giải quyết việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn đáp ứng được sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, với NKT thì việc dạy nghề không chỉ giúp họ lĩnh hội được kiến thức nhằm tìm kiếm việc làm, tự tạo của cải vật chất mà còn giúp họ tự tin hòa nhập cộng đồng, tự vươn lên trong cuộc sông.
Luật NKT là một nội dung mới được đưa vào nghiên cứu và giảng dạy pháp luật nên từ phương diện lý luận và từ quan điểm tiếp cận so sánh có thể đưa ra khái niệm: “Luật NKT là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điểu chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đảm bảo các quyên và trách nhiệm của NKT”° Để NKT quên đi những khuyết tật mà mình đang mang, dẹp bỏ tự ti dé sống và làm việc như người bình thường thì họ cần được học tập, rèn luyện và có một công việc ôn định, chat lượng.