Chương 1 Các vấn đề cơ bản về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên 1.1 Khái niệm nghề Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề. Có tác giả quan niệm“Nghề” là một lĩnh vực hoạt động lao động nhất định mà trong đó, cáchoạt động lao động theo nghề nhờ được đào tạo, người lao động có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu sử dụng, tiêu dùng. Cũng có tác giả cho rằng: Kiến thức và kỹ năng của người lao động cần có để đáp ứng một công việc cụ thể, đó là “Nghề” [3,tr15]. Ở mỗi quốc gia khác nhau, danh mục ngành nghề có thể khác nhau; tại các thời điểm khác nhau thì danh mục cũng khác nhau.
Bỡi lẽ, tại thời điểm này sự phát triển của khoa học và công nghệ, máy móc. cũng là nguyên nhân xuất hiện nghề này, hay triệt tiêu nghề khác. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Mỗi chuyên môn là một kỹ năng đòi hỏi tính chuyên nghiệp.
Từ các cách hiểu trên cho thấy: "Nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội, xã hội phát triển thì ngành nghề cũng thay đổi theo cho phù hợp với nhu cầu của xã hội”.2 Khái niệm Đào tạo Nghề Đào tạo NN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học – như vậy, đòi hỏi người học phải đươc trang bị cả lý thuyết và thực hành, đạo đức nghề nghiệp- để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành đào tạo hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình cung cấp kiến thức, kỹ năng cho người học nghề để người học nghề có kiến thức, kỹ năng, thái 8 n độ đáp ứng nhu cầu lao động sản cuất của xã hội [29,tr331]. Đặc điểm của đào tạo nghề. Thứ nhất, người lao động được tham gia chương trình đào tạo nghề của Chính phủ ban hành.
Thứ hai, nguồn kinh phí để triển khai các hoạt động đào tạo nghề từ nhiều nguồn: Kinh phí từ ngân sách nhà nước (Trung ương hoặc địa phương); kinh phí do doanh nghiệp để thực hiện đào tạo, nâng cao cho người lao động. Trong đó, ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ lao động nông thôn học nghề, hoạt động đào tạo; các cá nhân, doanh nghiệp tham gia công tác đào tạo nghề được hưởng mức thuế ưu đãi theo đúng quy định của pháp luật. Thứ ba, đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu doanh nghiệp; đáp ứng sự thiếu hụt trong cung cầu lao động. Như vậy, đào tạo nghề sẽ góp phần giải quyết việc làm cho người lao động.
Thứ tư, đào tạo nghề sẽ từng bước góp phần, gắn kết giữa lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn… sẽ từng bước tạo sự liên kết trong lao động, sản xuất, tạo thành vùng sản xuất, khu công nghiệp…Đây là yếu tố vô cùng quan trong từng bước tạo cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao trình độ, chất lượng nguồn nhân lực. Thứ năm, tăng cường sự kiên kết giữa các chủ thể trong đào tạo tạo nghề, trong đó đẩy mạnh “Đào tạo nghề gắn với thị trường lao động”; Quan hệ giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp được tăng cường; phát triển hình thức hợp đồng dạy nghề với doanh nghiệp, nhiều cơ sở dạy nghề hình thành bộ phận chuyên trách hoạt động hợp tác với các doanh nghiệp để thường xuyên nắm yêu cầu và nhu cầu lao động; mời các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo từ khâu tư vấn tuyển sinh, tham gia xây dựng chương trình, giáo trình, thực hành nghề trong quá trình đào tạo do đó phần lớn học sinh có việc làm ngay tại các doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp. Đồng thời, chính 9 n quyền quản lý đóng vai trò cầu nối trung gian cho nhà tuyển dụng doanh nghiệp và người lao động, thường xuyên điều tra khảo sát nhu cầu lao động của nhà tuyển dụng lao động và thông tin rộng rãi đến các cấp và trực tiếp đến người lao động, đặc biệt người lao động chưa có việc làm hoặc mới nghỉ việc. Trong xã hội ngày càng hiện đại, sự xuất hiện các tổ chức làm nhiệm vụ trung gian là điều tất yếu, chẳng hạn như bộ phận đảm nhiệm chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ cho người dân nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trong các lĩnh vực [http://www.net/p/man-sao-tre.html] được gọi là tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ.
Chính quyền quản lý hoạt động của tổ chức trên từng phạm vi của lãnh thổ, nhờ vào việc tổ chức dịch vụ nắm được thông tin về kết quả cần chuyển giao của nghiên cứu và nhu cầu của nơi cần sự ứng dụng khoa học và công nghệ nên hiệu quả sẽ tăng lên. Thứ sáu, Đẩy mạnh truyền thông về nhận thức “Học nghề, lập nghiệp”. Ở một số địa bàn, vẫn đề cao quan niệm rằng: Chỉ học nghề khi không đỗ và các trường cao đẳng, đại học, chưa xem trọng nghề được đào tạo, và cho rằng học nghề cho có bởi vì chỉ có bằng cao đẳng/đại học mới có thể kiếm được việc làm. Thứ bảy, quá trình đào tạo sẽ dịch chuyển theo hướng tự đào tạo.
Đây là đặc điểm có tính đột phá trong đào tạo nghề, từ việc thay đổi trong suy nghĩ của người lao động đến việc hình thành năng lực tư duy lâu dài, từ việc được ý thức cho đến tự ý thức. Với những thay đổi không ngừng trong quá trình hội nhập và phát triển ở bất kỳ khu vực lao động như hiện nay đã đặt ra cho công tác ĐTN không chỉ đào tạo một lần mà thay vào đó phải xây dựng kế hoạch đào tạo lâu dài đáp ứng được điều kiện thay đổi của thực tế.3 Đào tạo nghề cho thanh niên Đào tạo nghề cho TN là quá trình phối hợp giữa nhiều các chủ thể khác nhau-có thể chính là lực lượng thanh niên- nhằm tạo ra một môi trường làm việc phù hợp, góp phần giải quyết việc làm; đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực 10 n của doanh nghiệp. Như vậy, quá trình ĐTN cho TN, là: + Là quá trình đào tạo cho lao động trẻ đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của doanh nghiệp, của thị trường lao động. + Là các biện pháp hỗ trợ thanh niên có thể tự tạo ra việc làm cho bản thân mình nhằm nuôi sống gia ðình và có ích cho xã hội.
* Đặc điểm đào tạo nghề cho thanh niên Để đào tạo nghề cho thanh niên cần nghiên cứu những nét đặc trưng của xu hướng việc làm và đặc điểm thị trường lao động. Thứ nhất, xu hướng việc làm thanh niên: Ngày nay do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới nên có xu hướng giảm việc làm của lao động có trình độ thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp và những ngành, nghề truyền thống đang giảm dần ngược lại việc làm cho các nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng điểm ngày càng tăng… Thứ hai, đặc điểm thị trường lao động: + Hiện nay, cũng như các thị trường lao động của các quốc gia thì thì nguồn cung lao động quá cao, việc dư thừa lao động chưa qua đào tạo, thiếu việc làm xảy ra ở mọi nơi, mọi lĩnh vực. + Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. + Chất lượng đào tạo chưa cao; nội dung đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp.
+ Các ngành nghề đào tạo chưa đáp úng yêu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước; + Nhận thức của một bộ phận thanh niên về học nghề“ chưa thực sự trở thành mục tiêu, động lực. * Vai trò của đào tạo nghề cho thanh niên Muốn tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho TN dễ dàng lựa chọn công 11 n việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn thì đào tạo nghề phải đảm bảo việc làm cho TN tham gia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình.2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên. Chính sách ĐTN cho TN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển nguồn vốn con người, nguồn nhân lực trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đào tạo nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát triển KT-XH, nhằm đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp, phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên là việc làm vừa cấp bách, vừa là việc mang tính cơ bản lâu dài, từng bước hạn chế lao động thất nghiệp không có việc làm, góp phần giảm tải những áp lực về dân số cho các đô thị lớn hiện nay.3 Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện chính sách ĐTN cho thanh niên.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách Kế hoạch triển khai là việc xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp, các hoạt động cụ thể để tiến hành thực hiện nhiệm vụ công tác ĐTN cho TN của từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng. Theo nguyên tắc, kế hoạch mỗi khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì nó bắt buộc các cơ quan, đơn vị hữu quan triển khai thực hiện và hoàn thành đúng thời hạn. Kế hoạch đề ra (hoặc được giao) có được hoàn thành tốt và đúng thời hạn hay không là căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao của một cơ quan, đơn vị. 12 n Tổ chức thực hiện chính sách ĐTN cho TN là nhiệm vụ quan trọng, có sự tham gia của nhiều ngành, địa phương, cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp.
do vậy cần phải có kế hoạch để các ngành, địa phương căn cứ để thực hiện; cũng như kinh phí phân bổ để đảm bảo các hoạt động được thực hiện theo đúng tiến độ, yêu cầu.