CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và phân loại [18] Năm 1980, WHO giới thiệu phân loại Quổc tế về Khiếm khuyết - Giảm khả năng - Tàn tật (International Gasification of Impairment, Disability and Handicape - ICIDH). Trong cách phân loại theo mô hình Y tế này có các khái niệm cơ bản như sau: - Khiếm khuyết (Impairment): Là tình trạng thiếu hụt hoặc bất bình thường về cấu trúc giải phẫu, chức năng, tâm lý của cơ thể, do điều kiện sức khỏe gây ra. - Giảm khả năng (Disability): Do tình trạng khiếm khuyết, dẫn đến sự hạn chế hay thiếu hụt khả năng thực hiện các hoạt động theo cách thông thường mà những người khác thường làm.
Theo cách phân loại này WHO phân tàn tật thành 7 loại với các tên gọi khác nhau: - Khó khăn về vận động: suy giảm khả năng vận động như cụt, liệt cơ, bại liệt, liệt não. - Khó khăn về nhìn: bao gồm mù, mù màu. - Khó khăn về nghe, nói: như khiếm thính hoặc câm. - Khó khăn về học: suy giảm khả năng học tập (suy giảm về nhận thức và trí tuệ) như down, chậm phát triển trí tuệ.
- Hành vi xa lạ: thường là do bị bệnh tâm thần phân liệt hoặc loạn tinh thần hoặc các bệnh thẩn kinh khác. - Mất càm giác. - Đa tàn tật: là một người có từ 02 loại tàn tật trở lên. - Người khuyết tật: Theo Công ước quốc tế về quyền của NKT của Liên hiệp quốc thì NKT được định nghĩa như sau: “Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể 5 cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tàng công bàng như những người khác trong xã hội”.
[9] Theo điều 1, Nghị định 116/2004/NĐ-CP [5] của Chính phủ ngày 23/04/2004 và Pháp lệnh người tàn tật số 06/1998-PL [4] thì “Người khuyết tật là nhũng người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau (không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật) có khả năng lao động bị suy giảm 21%, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn, được phòng y tế quận, huyện hoặc Hội đồng giám định Y khoa xác nhận”. + Sinh viên khuyết tật: Là những NKT ở các dạng tật khác nhau đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước [21]. Tình hình khuyết tật trên thế giói Theo WHO, NKT chiếm khoảng 10% dân số. Năm 1996, trên thế giới có khoảng 500 triệu NKT, riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu NKT.
Do có sự khác nhau về khái niệm và phương pháp điều tra, đo lường khuyết tật mà tỷ lệ khuyết tật rất khác nhau ở các nước như Canada 14,7%, NaUy 17,6%, Mỹ 15%, New Zealand 20%, úc 18% trong khi đó một số nước của Châu Phi như Kenya 0,7%, Nigeria 0,5%, Nam Phi 0,5%. Theo báo cáo thống kê về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2004 của WHO, trên thế giới, có khoảng 15,3% NKT (tương đương với 978 triệu người); trong đó, có 2,9% là dạng khuyết tật nghiêm trọng. Tỷ lệ trẻ từ 0 - 14 tuổi khuyết tật là 5,1% và trên 15 tuồi là 19,4%. Tỷ lệ khuyết tật trên the giới vẫn tăng khoảng 1,63% mỗi năm [45].
Biếu đồ 1: Tỷ lệ NKT theo các nhóm khó khãn (Nguồn: World report on disability 2011) 6 3. Tình hình khuyết tật tại Việt Nam Việt Nam là một trong những quốc gia có tỳ lệ khuyết tật cao. Có nhiều yếu tố tác động tới tình hình khuyết tật ở nước ta, nhưng chủ yếu vẫn là ảnh hường bởi bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng; di chứng chất độc da cam sau chiến tranh; hậu quả của các vấn đề sức khoẻ công cộng trong giai đoạn phát triển như tai nạn thương tích, tai nạn giao thông; các bệnh không truyền nhiễm, điển hình là sức khỏe tâm thần v. [ 18] Chưa có một điều tra nào trên quy mô toàn quốc vê khuyết tật, nên chưa có một số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ khuyết tật trên cả nước.
Tuy nhiên, có một vài số liệu từ các nghiên cứu nhỏ lẻ của các tổ chức, các Bộ, ngành liên quan thì tỷ lệ khuyết tật trong cộng đồng vào khoảng 4% đến 7% dân số [18], Theo thong kê của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội năm 2005 trên cả nước có khoảng 5,3 triệu NKT [1], Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy, nước ta có 12,75 triệu NKT, chiếm 15,3% dân số cả hước[15]. Kết quả Tổng điều ưa dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 [16] cho thấy, tỷ lệ NKT ở độ tuổi từ 5 tuổi ttở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,7 triệu người, trong đó có khoảng 5,8% là nữ giới và khoảng 75% tập trung ở khu vực nông thôn. Mặc dù, những so liệu trên có thể còn chưa phản ánh đầy đủ và chính xác quy mô và cơ cấu NKT ở Việt Nam, nhưng ở một chừng mực nào đó đã cho thấy vấn đề khuyết tật và NKT là phổ biến ở Việt Nam và là vấn đề cần quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội quốc gia. [14] Kết quả khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT của Tổ chức Lao động Quốc tế năm 2010 cho thấy số lượng NKT đang có xu hướng gia tăng.
Đáng chú ý, những nguyên nhân dẫn tới tàn tật cũng sẽ có sự biến động và khác hơn so với giai đoạn trước đây. Cụ thể, ưong khi số NKT do bẩm sinh, bệnh tật, hay chiến tranh giảm đi thì khuyết tật có nguyên nhân từ tai nạn giao thông và tai nạn lao động đang có xu hướng gia tăng cùng với quá trình phát ưiển công nghiệp hoá và đô thị hoá mạnh mẽ ở Việt Nam [3,14], về mặt xã hội, kết quà cùa một số cuộc điều ưa mẫu [2] cho thấy, gần 8% hộ gia đình ở Việt Nam có NKT, bình quân một hộ gia đình NKT có 1,12 NKT. Khoảng 75% hộ gia đình có NKT sinh sống ở khu vực nông thôn và 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); gần 24% những hộ gia đình có NKT phải sống trong 7 điều kiện nhà ở tạm và có tới 65% sống trong những ngôi nhà bán kiên cố. Do điều kiện khó khăn, hầu hết các hộ gia đình có NKT (82,2%) chỉ đảm bảo đáp ứng được nhu cầu căn bản về ăn, ở và mặc cho NKT, còn lại các nhu cầu khác của NKT thì khả năng đáp ứng của hộ gia đình rất hạn che.
Ket quả điều tra mẫu cho thấy, trên 80% hộ gia đình có NKT đang gặp phải khó khăn trong việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho NKT, hon một nửa hộ gia đình (51,2%) gặp khó khăn trong việc chăm sóc, hỗ trợ NKT trong sinh hoạt hàng ngày và gần 55% hộ gia đình gặp khó khăn về việc làm và vốn sản xuất kinh doanh tạo việc làm cho NKT. về cá nhân NKT, ket quả cuộc điều tra mẫu [2] đã phàn ánh một thực trạng đáng lo ngại. Đa số NKT có trình độ văn hoá thấp và chưa qua đào tạo nghề. Trong tổng số NKT, có khoảng 21 % NKT còn khả năng lao động và 62% trong số này đang tham gia hoạt động kinh tế tạo thu nhập, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp - một trong nhũng lĩnh vực có năng suất lao động và tạo ra giá trị thặng dư thấp nhất trong các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân.
Với những hạn chế do khuyết tật và những hạn chế về trình độ năng lực nên đa phẩn NKT CÓ ít nguồn thu nhập, nguồn thu nhập không ổn định và thấp, không đủ trang trải cho cuộc sổng của gia đình NKT nói chung và bản thân họ nói riêng. Khoảng 80% NKT ở thành thị và 70% NKT ở nông thôn phải sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội. số NKT có thể tự lập được cuộc sống chỉ chiếm khoảng 11% trong tổng số [2]. Các dạng khuyết tật thường gặp ở Việt Nam theo tần suất từ cao xuống thấp là: diuyết tật ve vận động; khuyết tật vê nghe, nói; khuyêt tật vê nhìn; khuyêt tật vê nhận thức, tâm thần - hành vi; mất càm giác; và các dạng khuyết tật khác; nhiều người ưong số họ bị đa tật [16], Ket quả điều ưa năm 2006 theo mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê về khuyết tật: [15] - Tỷ lệ khuyết tật chung của người trên 5 tuổi là 15,3 %.
- Tỳ lệ khuyết tật theo vùng: Đồng bằng sông Hồng 15,6 %; Đông Bắc 15,9 %; Tây Bắc 10,7 %; Bắc Trung bộ 13,7 %; Duyên hải Nam Trung bộ 15 %; Tây Nguyên 14,5 %; Đông Nam bộ 17,1 %; Đồng bằng sông Cửu Long 15,4 %. - Tỷ lệ khuyết tật theo giới: nam 13,9 %; nữ 16,6 %. 8 - Tỷ lệ khuyết tật theo nhóm dân tộc: Dân tộc Kinh 15,7%; nhóm dấn tộc khác 12,7%. - Tỷ lệ khuyết tật theo khu vực dân cư: Nông thôn 14,4 %; thành thị 17,8 %.
Tầm quan trọng của việc đào tạo tin học cho NKT 4. Tầm quan trọng của tin học trong cuộc sống hiện đại Ngày nay, tin học với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng và khả năng ứng dụng rộng rãi đã trở thành một phần không thể thiếu của công cuộc xây dựng và phát triển xã hội. Hon thể nữa, nó còn đi sâu vào đời sồng con người. Nhờ CÓ Sự tiến bộ cùa tin học, công việc của con người trở nên đơn giản hơn, chính xác, nhanh chóng và dễ dàng hon rất nhiều.
Do đó, tin học đặc biệt là những chiếc máy tính trở nên thân thuộc và được ứng dụng trong rất nhiều ngành nghề. Máy tính giúp các ngân hàng dễ dàng thực hiện việc giao dịch và tính toán. Tất cả mọi người đều có thể dễ dàng liên lạc hay giao tiếp với nhau qua internet, email đặc biệt là việc tìm kiếm thông tin qua internet ngày càng trở nên thông dụng và hữu ích. Rất nhiều ngành nghề khác như thể thao, y tế, kinh doanh và nghiên cứu khoa học đã coi tin học nói chung và chiếc máy tính nói riêng là cánh tay đắc lực để giúp họ thực hiện công việc; tất nhiên ngành giáo dục cũng không phải là ngoại lệ.
CNTT giống như một công cụ hữu ích giúp cho sinh viên và các giảng viên tìm kiếm và nghiên cứu các tài liệu một cách đon giản và dễ dàng hom[49].