Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên với tổng dân số năm 2019 đạt 370.000 người, quy tụ 40 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, cộng đồng dân tộc thiểu số chiếm 16% dân số với 58.000 người, phân bổ chủ yếu tại 33 buôn đồng bào Ê Đê và các cụm dân cư vùng ven. Lực lượng trong độ tuổi lao động của toàn thành phố đạt 214.264 người, chiếm 57,8% tổng dân số, tạo nên nguồn nhân lực dồi dào cho công cuộc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể, đẩy hơn 28.000 lao động dân tộc thiểu số vào tình trạng thiếu việc làm do hạn chế về trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột giai đoạn 2014–2019, từ đó nhận diện những điểm nghẽn về thể chế, tổ chức thực thi và phân bổ nguồn lực. Bám sát định hướng của Kết luận số 67-KL/TW ngày 16/12/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ mức dưới 45% lên trên 60%, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước về dịch vụ công và lý thuyết vốn nhân lực để làm rõ vai trò điều tiết của chính quyền đối với việc phát triển nguồn lực con người vùng đồng bào thiểu số. Luận văn chuẩn hóa ba khái niệm trọng tâm: lao động dân tộc thiểu số, đào tạo nghề theo quy định tại Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, và quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Khung phân tích quản lý công được thiết lập toàn diện qua 6 nội dung: hoàn thiện thể chế chính sách; điều tra khảo sát và quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo; kiện toàn bộ máy cán bộ quản lý; phát triển đội ngũ giáo viên; hỗ trợ tài chính - trang thiết bị theo Thông tư 58/2017/TT-BTC; và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Mô hình phân tích này bám sát các định hướng chiến lược từ Nghị quyết số 52/NQ-CP năm 2016 của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số giai đoạn 2016–2020 và Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014–2019 được thu thập có hệ thống từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk, UBND thành phố Buôn Ma Thuột, Niên giám thống kê và báo cáo tổng kết của 27 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn. Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thực hiện phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 677 học viên tại 18 lớp dạy nghề thuộc 5 xã đặc thù gồm Ea Tu, Hoà Phú, Cư Êbur, Hòa Thắng, Ea Kao, kết hợp khảo sát thực địa tại 5 cơ sở đào tạo nghề tiêu biểu với quy mô 13.075 học viên tham gia 40 lớp học. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp tài liệu quản lý được lựa chọn nhằm đối sánh các chỉ tiêu đào tạo, làm rõ thực trạng phân bổ ngành nghề và đánh giá chính xác tác động của các chính sách công qua mốc thời gian 6 năm liên tục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại ba phát hiện thực tiễn quan trọng về công tác đào tạo nghề tại Buôn Ma Thuột. Thứ nhất, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề phát triển đồng bộ với 27 đơn vị (18 cơ sở công lập, 6 cơ sở tư thục, 2 cơ sở doanh nghiệp và 1 phân hiệu liên kết). Trong hai năm 2018–2019, toàn thành phố đã đào tạo nghề cho 8.700 lao động, trong đó 8.140 người học tại các trường, trung tâm và 560 người học tại các lớp đào tạo lưu động ở xã, phường. Thứ hai, tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số tham gia học nghề còn rất thấp và chưa tương xứng với quy mô dân số. Số liệu năm 2019 tại Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên cho thấy, trong 226 học viên có hộ khẩu thường trú tại Buôn Ma Thuột thì chỉ có 65 học viên là người dân tộc thiểu số, chiếm 28,8%. Thứ ba, cơ cấu ngành nghề đào tạo cho học viên dân tộc thiểu số còn mất cân đối; người học chủ yếu tập trung vào các nghề ngắn hạn như may công nghiệp (năm 2018 có 72/139 học viên may là người dân tộc thiểu số) và kỹ thuật nấu ăn, trong khi các ngành kỹ thuật công nghiệp chất lượng cao có tỷ lệ học viên thiểu số rất thấp, đơn cử như công nghệ ô tô chỉ có 9/66 học viên và kỹ thuật xây dựng chỉ ghi nhận 1/4 học viên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ rào cản trình độ văn hóa đầu vào của lao động dân tộc thiểu số, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên trách am hiểu phong tục tập quán bản địa và sự liên kết giữa chính quyền, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp tuyển dụng còn lỏng lẻo. So sánh với bài học từ thị xã Buôn Hồ (nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 40% năm 2015 lên 55,62% năm 2018 với 6.206 người được học nghề) và thành phố Pleiku (tổ chức 4 lớp tập trung cho 350 học viên dân tộc thiểu số năm 2020), Buôn Ma Thuột cần đổi mới cách thức đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường. Nhằm phục vụ công tác quản trị, các kết quả nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ nhập học của học viên thiểu số theo từng nhóm ngành và bảng ma trận đối sánh giữa cơ cấu nghề đào tạo với tỷ lệ giải quyết việc làm sau khóa học (hiện đạt khoảng 92,3% tại bậc cao đẳng nhưng chỉ đạt từ 50% đến 60% đối với các lớp sơ cấp tại xã).

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện thể chế và nâng cao mức hỗ trợ tài chính: UBND thành phố Buôn Ma Thuột cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, phấn đấu đạt mục tiêu hỗ trợ 100% chi phí học nghề, tiền ăn và chi phí đi lại cho học viên dân tộc thiểu số theo Quyết định 1956/QĐ-TTg và Thông tư 58/2017/TT-BTC, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2022–2025.
  • Cơ cấu lại ngành nghề đào tạo gắn liền với nhu cầu doanh nghiệp: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Đắk Lắk đổi mới khung chương trình, mở rộng đào tạo chế biến cà phê, ca cao xuất khẩu, vận hành máy nông nghiệp và thương mại dịch vụ du lịch bản địa, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ có việc làm sau đào tạo lên trên 80% từ năm 2023.
  • Mở rộng hình thức đào tạo lưu động tại cơ sở buôn làng: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên thành phố phối hợp với UBND 8 xã tổ chức định kỳ 15 đến 20 lớp dạy nghề ngắn hạn mỗi năm ngay tại 33 buôn đồng bào Ê Đê, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nông nhàn tham gia học tập.
  • Tăng cường kiểm định, thanh tra và số hóa dữ liệu việc làm: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì thanh tra định kỳ 100% các lớp đào tạo nghề, xây dựng hệ thống phần mềm theo dõi tình trạng việc làm và biến động thu nhập của lao động dân tộc thiểu số định kỳ 6 tháng một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Buôn Ma Thuột sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo nghề hằng năm và bố trí nguồn ngân sách an sinh xã hội.
  • Ban giám hiệu và giảng viên các trường giáo dục nghề nghiệp: Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên cùng các trung tâm dạy nghề áp dụng tài liệu để cải tiến phương pháp sư phạm thực hành, biên soạn giáo trình trực quan phù hợp với đặc thù tiếp thu của đồng bào thiểu số.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư tại Tây Nguyên: Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và chế biến nông sản khai thác nguồn dữ liệu để thiết lập mô hình đặt hàng đào tạo nhân lực tại chỗ, giúp giảm thiểu chi phí tuyển dụng.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công: Tài liệu tham khảo giá trị về khung lý thuyết quản lý dịch vụ công, phương pháp phân tích chính sách và xử lý số liệu thống kê thực chứng tại vùng đô thị đa dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số tại Buôn Ma Thuột lại mang tính cấp bách?
    Quá trình đô thị hóa làm thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp, tác động trực tiếp đến 58.000 người dân tộc thiểu số (chiếm 16% dân số thành phố). Hơn 28.000 lao động thiểu số cần được đào tạo nghề phi nông nghiệp để chuyển đổi sinh kế bền vững, ngăn ngừa nguy cơ thất nghiệp và tái nghèo.

  • Hình thức đào tạo nghề lưu động tại buôn làng mang lại những ưu thế gì?
    Hình thức này giúp học viên tại 33 buôn Ê Đê tiết kiệm chi phí đi lại và chủ động sắp xếp thời gian canh tác. Minh chứng trong hai năm 2018–2019, thành phố đã mở 16 lớp lưu động cho 560 học viên tại các xã ven đô, duy trì tỷ lệ chuyên cần trên 95%.

  • Rào cản lớn nhất đối với lao động dân tộc thiểu số khi học các nghề kỹ thuật cao là gì?
    Trình độ học vấn chưa đồng đều (nhiều lao động chưa tốt nghiệp trung học phổ thông) và tâm lý e ngại công nghệ phức tạp là rào cản chính. Điển hình năm 2019, ngành công nghệ ô tô tại Trường Cao đẳng Công nghệ Tây Nguyên chỉ thu hút 9 học viên dân tộc thiểu số trên tổng số 66 người học.

  • Doanh nghiệp đóng vai trò như thế nào trong chuỗi quản lý đào tạo nghề tại địa phương?
    Doanh nghiệp tham gia xác định chuẩn đầu ra, tài trợ trang thiết bị thực hành và tiếp nhận lao động sau đào tạo. Mối liên kết giữa 27 cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp chế biến cà phê giúp nâng tỷ lệ tuyển dụng thực tế sau tốt nghiệp lên trên 85%.

  • Chính sách hiện hành hỗ trợ những chi phí gì cho người dân tộc thiểu số học nghề?
    Theo Quyết định 1956/QĐ-TTg và Thông tư 58/2017/TT-BTC, học viên được miễn 100% học phí sơ cấp, nhận hỗ trợ tiền ăn 30.000 đồng/ngày thực học, hỗ trợ tiền đi lại và được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để khởi nghiệp sau khóa học.

Kết luận

  • Toàn thành phố đã đào tạo nghề cho 8.700 lượt lao động trong hai năm 2018–2019 thông qua 27 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhưng tỷ lệ tham gia của lao động dân tộc thiểu số còn dưới mức 30%.
  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công về phát triển nhân lực đặc thù và cung cấp bức tranh thực trạng đa chiều tại 21 xã, phường thuộc thành phố Buôn Ma Thuột.
  • Công trình chỉ rõ 4 điểm nghẽn về thể chế, khảo sát nhu cầu, phương thức giảng dạy và kiểm định chất lượng đào tạo nghề tại khu vực Tây Nguyên.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất được phân kỳ rõ ràng: giai đoạn 2022–2025 hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo lưu động; giai đoạn 2025–2030 chuẩn hóa mạng lưới nghề nghiệp hiện đại theo Kết luận 67-KL/TW.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục phối hợp triển khai đồng bộ các khuyến nghị của luận văn nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới.