phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NÂNG CHUẨN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Quản lý hoạt động đào tạo đã được nhiều nhà quản lý giáo dục và giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, mỗi tác giả chỉ đề cập đến một số vấn đề quản lý hoạt động đào tạo khác nhau mà chưa có công trình nào đề cập đến quản lý hoạt động đào tạo nâng chuẩn cho giáo viên mầm non một cách hệ thống.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Hồng Đức đã tổ chức hội thảo khoa học về công tác đào tạo giáo viên mầm non đáp ứng chuẩn đầu ra của trường giai đoạn 2015 – 2020. Ngày 30/12/2011, Trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội phối hợp với Quỹ Hoà bình và Phát triển Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo giáo viên phổ thông". Đây là hội thảo nằm trong lộ trình nghiên cứu của nhánh số 5 "Cải cách công tác đào tạo giáo viên phổ thông" trong khuôn khổ đề tài độc lập cấp nhà nước "Đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo giáo viên phổ thông" do bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam làm chủ nhiệm. Hội thảo thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lí, nhà giáo đến từ các Viện nghiên cứu, Bộ GD&ĐT, các trường đại học, các khoa Sư phạm tham gia các Chương trình đào tạo Giáo viên phổ thông.
Tác giả Đinh Quang Báo, Viện nghiên cứu Sư phạm, ĐHSP Hà Nội có bài viết về "Những vấn đề định hướng xây dựng chương trình đào tạo giáo viên từ thực trạng chất lượng sinh viên và đội ngũ giáo viên" đã khẳng định các cơ sở đào tạo giáo viên sẽ còn nhiều việc phải làm để cải cách công tác đào tạo nhưng một điều phải làm và có thể làm được là phải có sự đồng bộ trong việc hướng 6 đích dạy nghề "giáo viên". Đồng bộ ở đây là về chương trình, tổ chức đào tạo, sự giảng dạy của mỗi cán bộ từng môn học, nội dung thực hành và lí thuyết. Nếu tạo được sự đồng bộ đó sẽ có được sự cải tiến đột phá chất lượng đào tạo giáo viên. Báo cáo về "Đào tạo giáo viên trung học cho thế kỉ 21" của tác giả Nguyễn Đức Chính, Trường Đại học Giáo dục.
Với mục đích chính là bàn luận về đào tạo thế hệ trẻ và giáo viên tương lai, tác giả Nguyễn Đức Chính đã đưa ra ba năng lực gốc của người giáo viên tương lai là có tầm nhìn thế giới, có bản lĩnh và có hoài bão. Tác giả đưa ra bốn định hướng chính cho chương trình giáo dục đào tạo giáo viên thế kỉ 21 là: giáo dục tập trung phát triển năng lực, học tập tích hợp, mở cửa trường đại học ra xã hội và đánh giá thúc đẩy quá trình học tập. Các ý tưởng này chắc chắn sẽ là những căn cứ khoa học cần thiết để xây dựng một chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng nhu cầu hội nhập thế giới của Việt Nam. Báo cáo của tác giả Nguyễn Thị Ban - Trường Đại học Giáo dục đã tập trung bàn về "Mô hình đào tạo giáo viên tiểu học chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế".
Báo cáo này là sự tiếp nối của các báo cáo trước khi tác giả đề cập một cách khá cụ thể tới mô hình đào tạo giáo viên tiểu học chất lượng cao, từ chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo đến hệ thống năng lực cấu thành phẩm chất nghề nghiệp giáo viên tiểu học hay chính là nội dung chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo. Báo cáo của tác giả Tôn Quang Cường, tác giả Nguyễn Chí Thành, Trường ĐHGD - ĐHQG Hà Nội trong Tài liệu Hội thảo đề xuất nội dung của chương trình đào tạo giáo viên phổ thông sau khi phân tích chương trình của một số nước với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến đến từ Bộ GD&ĐT cho rằng vấn đề trước mắt nên quan tâm là đào tạo giáo viên có chất lượng trước khi muốn đào tạo giáo viên chất lượng cao và câu hỏi đặt ra sẽ là "giáo viên có chất lượng là như thế nào?". Ông đưa ra 3 mẫu hình giáo viên hiện nay trên thế giới (mẫu hình giáo viên hiệu quả: hồi cứu, khám phá, thay đổi xã hội) và đặt câu hỏi "mẫu hình giáo viên chúng ta xây dựng bây giờ là gì?".
7 Tác giả Lê Tiến Thành, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học, Bộ GD&ĐT cũng đề cập tới một thực tế là chất lượng giáo viên tiểu học hiện nay rất thấp, cần đề xuất một mô hình đào tạo giáo viên thích hợp với những môn như hội họa, âm nhạc, ngoại ngữ sẽ được đào tạo riêng, song song với các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Ngoài ra, muốn có được những giải pháp trong vấn đề đổi mới công tác đào tạo giáo viên hiện nay thì những đề xuất cần phải căn cứ và xuất phát từ thực tiễn. Đề tài cấp Bộ “Một số giải pháp nâng cao năng lực đào tạo giáo viên dạy nghề bậc đại học của các trường sư phạm kỹ thuật” có mã số B2011-03-05 được Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh thực hiện năm 2011 đã giải quyết các vấn đề: Dự báo nhu cầu sử dụng giáo viên dạy nghề bậc đại học; Tăng quy mô, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề đào tạo giáo viên dạy nghề bậc đại học; Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ở các trường ĐHSPKT; Đổi mới các thành tố của quá trình đào tạo giáo viên dạy nghề bậc đại học; Đổi mới cơ chế quản lý đào tạo ở các trường ĐHSPKT; Đổi mới hoạt động khoa học công nghệ ở các trường ĐHSPKT; Kết hợp giữa các trường ĐHSPKT với các trường dạy nghề trong đào tạo giáo viên dạy nghề bậc đại học. Có thể thấy rằng, trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục thì có rất ít những công trình quan tâm đến công tác đào tạo nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên mầm non theo hình thức vừa làm vừa học tại các trường cao đẳng sư phạm.
Chính vì lý do này đã thôi thúc chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài. Những khái niệm công cụ 1. Quản lý Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động đến con người để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao; để họ làm những điều bổ ích, có lợi. Điều 8 đó đòi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con người như: cấu tạo thể chất, những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động (tích cực, tiêu cực).
+ Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt đông nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận. + Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển.
Người Nhật khẳng định: “Biết cái gì, biết làm gì là quan trọng nhưng quan trọng hơn là biết quan hệ”. Người Mỹ cho rằng: "Chi phí cho thiết lập, khai thông các quan hệ thường chiếm 25% đến 50% toàn bộ chi phí cho hoạt động". Trong hoạt động kinh tế biết thiết lập, khai thông các quan hệ sản xuất cụ thể thì các yếu tố thuộc lực lượng sản xuất mới ra đời và phát triển nhanh chóng. + Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực.
Quản lý đóng vai trò như một nhân tố của sự phát triển xã hội. Hoạt động quản lý diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý học. Khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt. Xét trên phương diện nghĩa của từ, thuật ngữ “quản lý” (theo tiếng Việt gốc Hán) bao gồm từ “quản” là coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; “lý” là 9 sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”. Như vậy, trong hoạt động quản lý, việc bảo quản, giữ gìn và làm cho phát triển là hai mặt của một vấn đề.
Nếu chỉ chú trọng “quản” thì tổ chức dễ trì trệ, nếu chỉ “lý” thì phát triển không bền vững. Theo cách tiếp cận hệ thống, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích nhất định. Một số quan niệm khác: F. Fayol (1886-1925) quan niệm rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.P Follet (1868-1933) có nhận định: Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác.
Simon (1916) cho rằng ra quyết định là cốt lõi của quản lý. Mọi công việc của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý. Ra quyết định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức.