Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí đào tạo liên kết ở trường trung cấp với doanh nghiệp. Chương 2: Thực tiễn quản lí đào tạo liên kết ở trường trung cấp thuộc tỉnh Bắc Ninh với doanh nghiệp. Chương 3: Biện pháp quản lí đào tạo liên kết ở trường trung cấp với doanh nghiệp. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐÀO TẠO LIÊN KẾT Ở TRƢỜNG TRUNG CẤP VỚI DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Vấn đề đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Vấn đề ĐTLK giữa nhà trường và doanh nghiệp (DN) là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của hai phía. Nhà trường là nơi cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền kinh tế - xã hội nói chung và DN nói riêng. Đó là những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng của XH, trong đó có các DN, mà các DN lại đang đứng trước nhiều thách thức giữa nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh và đổi mới công nghệ nhưng lại khan hiếm các đội ngũ lao động có năng lực chuyên môn và tay nghề cao.
Nhà trường và DN nên có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất mục tiêu đào tạo, cam kết hỗ trợ và tuyển dụng theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Vấn đề đào tạo nghề nói chung, ĐTLK nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. George Psacharopoulos [122] đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của ĐTN để giải quyết thất nghiệp cho thanh niên; giải quyết việc thiếu kĩ thuật viên trung cấp cho các DN đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa; truyền bá trí thức công nghệ, đồng thời đây cũng là con đường cho những HS không muốn tiếp tục học văn hóa theo đường chính quy truyền thống. Psacharopoulos cũng đã nêu hiện tượng thanh niên có nghề nhưng vẫn thất nghiệp, quy mô các CSDN được mở rộng nhưng vẫn không đủ công nhân kĩ thuật vào làm việc.
Psacharopoulos đã đưa ra nguyên nhân và biện pháp giải quyết, trong đó đặc biệt chú ý đến các chính sách đối với người lao động và ĐTN gắn với nhu cầu của các DN và xã hội. Zafiris Tzannatos và Geraint Johnes [127] đã giới thiệu về công tác ĐTN ở các nước Đông Á. Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha [21] đã chỉ rõ thị trường LĐ là nơi mà cung LĐ gặp cầu về LĐ, nơi mà về nguyên tắc, nhu cầu và lợi ích của 9 người LĐ gặp nhu cầu và lợi ích của người sử dụng LĐ. Tuy nhiên, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam, Nhà nước phân chia chỉ tiêu đào tạo, kinh phí đào tạo cho các CSĐT, và học sinh tốt nghiệp được phân công công tác theo kế hoạch hàng năm.
Các trường thực hiện đào tạo nhằm phục vụ cho bộ máy quản lí, các cơ quan sự nghiệp của Nhà nước và các thành phần kinh tế quốc doanh. Cung và cầu về nhân lực được thực hiện qua kế hoạch do Nhà nước xây dựng, như vậy không có sự cạnh tranh về lao động trên thị trường, và trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không có thị trường LĐ. Các CSĐT nói riêng và hệ thống đào tạo nói chung không cần quan tâm đến nhu cầu lao động kĩ thuật của xã hội, vì tất cả đầu vào, đầu ra cũng như quá trình đào tạo đều được Nhà nước cung cấp và can thiệp, quyết định, CSĐT chỉ là người thực hiện thụ động. Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha [21] nêu rõ với cơ chế thị trường trong nền kinh tế nhiều thành phần, việc xác định nhu cầu đào tạo là bước khởi đầu quan trọng để phát triển đào tạo, nếu không xác định được nhu cầu đào tạo thì sẽ không tránh khỏi sự khập khễnh, đào tạo ra một đội ngũ LĐ kỹ thuật vừa thừa, vừa thiếu, gây khó khăn cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời gây lãng phí to lớn về nhân lực, tài lực cũng như vật lực của nhà nước và của nhân dân.
Theo Trần Khánh Đức [17], Đánh giá chất lượng đào tạo là một khâu quan trọng trong công tác đảm bảo chất lượng, đánh giá là một quá trình, là sự so sánh kết quả học tập của HSSV với mục tiêu đào tạo để phán xét về mức độ đạt chuẩn đã quy định. Chất lượng đào tạo được hiểu là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với thị trường LĐ, đối với các đơn vị sử dụng LĐ. Để đánh giá chất lượng đào tạo, ngoài ý kiến chủ quan của các CSĐT, cần phải dựa vào ý kiến của người LĐ và các đơn vị sử dụng LĐ, trong đó có các DN. Đánh giá về chất lượng sản phẩm đào tạo có thể tiếp cận theo nội dung; theo mục tiêu; theo quá trình.
10 Theo Nguyễn Đức Trí, Phan Chính Thức [92], mục tiêu đào tạo TC cần được xác định rõ ràng theo hướng năng lực thực hiện. Theo Luật giáo dục nghề nghiệp, mục tiêu giáo dục nghề nghiệp trình độ trung cấp là giúp người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kĩ thuật công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. Do vậy, mục tiêu ĐTLK với DN được xác định trên cơ sở đào tạo người lao động có đạo đức nghề nghiệp, kiến thức, kĩ năng nghề, sức khỏe, năng lực và kĩ năng sống cần thiết đáp ứng yêu cầu xã hội về nhân lực. Phan Minh Hiền [28] nhận định rằng, để đáp ứng nhu cầu xã hội (NCXH), ĐTN phải chuyển mạnh từ hướng cung sang hướng cầu, gắn với NCXH; các hoạt động phát triển hệ thống ĐTN cần được điều chỉnh bởi các nội dung quản lí ở tầm vĩ mô để duy trì mối quan hệ cân bằng động giữa ĐTN và NCXH.
Để phát triển ĐTN đáp ứng NCXH, cần thực hiện các biện pháp quản lí ĐTN ở tầm vĩ mô như: Phát triển hệ thống thông tin ĐTN và NCXH; quy hoạch mạng lưới CSDN; quản lí chất lượng ĐTN đáp ứng NCXH; xây dựng cơ chế quản lí quan hệ hợp tác đào tạo và sử dụng nhân lực; nâng cao năng lực quản lí ĐTN. Nhưng tác giả không đi sâu nghiên cứu việc tổ chức quản lí ĐTLK giữa các CSĐT và các DN nhằm tạo hiệu quả cao nhất cho việc ĐTN đáp ứng NCXH. Nguyễn Thị Hằng [38] đã xem xét quản lý ĐTLK giữa trường dạy nghề và DN theo hướng đáp ứng NCXH. Với quan điểm coi DN và trường dạy nghề là 2 thành tố của thị trường lao động, tác giả đã nêu nội dung liên kết giữa trường dạy nghề với DN trong các hoạt động trao đổi thông tin về nhu cầu đào tạo; trong việc xây dựng mục tiêu chuẩn của các trình độ đào tạo, trong quá trình tổ chức đào tạo.
Đề tài đã nêu một số mô hình ĐTLK, điều kiện để thiết lập ĐTLK với DN, nhưng không đề cập về công tác quản lý ĐTLK. 11 Đặng Văn Thành [81], [82] đã nêu mối quan hệ giữa ĐTN với thị trường lao động thông qua những yêu cầu mà thị trường lao động đòi hỏi ĐTN cần đáp ứng. Tác giả đề xuất một số giải pháp thực hiện ĐTN thông qua phương pháp đào tạo để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, nhưng không đề cập đến vấn đề quản lí ĐTLK. Đào Thị Thanh Thủy [87] coi ĐTLK giữa nhà trường và DN trong KCN là một trong các nhân tố tác động đến quản lí đào tạo nhân lực kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển các KCN.
Cũng như Nguyễn Thị Hằng, tác giả đã nhận định rằng qua mối ĐTLK giữa nhà trường và DN trong KCN, các nhà trường cần có mối liên hệ chặt chẽ với các DN để biết được nhu cầu nhân lực luôn biến động của họ trong quá trình phát triển sản xuất và qua mối liên hệ này cũng tạo điều kiện cho các nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu DN trong KCN. Đề tài không đề cập chi tiết đến nội dung quản lí ĐTLK với DN. Nói tóm lại, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau nhưng cơ sở lý thuyết của đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội đã được các nhà nghiên cứu, giáo dục trên thế giới và Việt Nam làm rõ và được hệ thống đầy đủ và khoa học từ khái niệm, đặc điểm, cách thức vận hành hoạt động cho đến những ưu điểm và hạn chế. Vấn đề đào tạo liên kết với doanh nghiệp Zafiris Tzannatos và Geraint Johnes [127] đã giới thiệu các phương thức ĐTLK với DN.
Ví dụ ở Hàn Quốc, chính phủ có chính sách khuyến khích các DN tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực bằng cách giảm thuế, được trợ cấp kinh phí, được vay vốn. Thời gian đào tạo nghề 3 năm, HS học ở trường 2 năm, 1 năm học ở DN và được nhận lương (trợ cấp). Chana Kasipar, Mac Van Tien, Se-Yung LIM, Pham Le Phuong, Phùng Quang Huy, Alexander Schnarr, Wu Quanquan, Xu Ying, Frank Bünning [120] đã đề cập tới nhiều giải pháp liên kết mang lại hiệu quả tích cực như đào tạo tại xí nghiệp, đào tạo tại nơi sản xuất với vai trò chủ đạo thuộc về cơ sở sử dụng nhân lực. Theo Frank Bünning và Alexander Schnarr, 12 cần chú ý đến chiến dịch cộng tác giữa các thành viên như: các cá nhân, cộng đồng và gia đình, các tổ chức tình nguyện, CSĐT tư nhân, CSĐT công lập, công nhân và tổ chức.
Vấn đề là tạo được sự tự nguyện trong liên kết. Nguyễn Văn Anh [2], [1] đã đề xuất một số giải pháp tăng cường phối hợp đào tạo giữa CSDN và DN trong KCN dưới góc độ giáo dục học. Các giải pháp này bao gồm các lĩnh vực như phát triển chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu DN, nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên dạy nghề, các điều kiện về cơ sở vật chất cho việc tổ chức quá trình dạy thực tập tại DN trong KCN. Đề tài chưa đề xuất được mô hình ĐTLK tổng quát với cơ chế quản lí cụ thể phù hợp với điều kiện tại Việt Nam.
Phạm Minh Phương [71] nêu được tầm quan trọng của đào tạo nhân lực tại DN trong hệ thống ĐTN, đặc biệt trong ngành may mặc. Công trình này đã giới thiệu cách đào tạo nhân lực trực tiếp tại DN sản xuất, do đội ngũ cán bộ lành nghề truyền dạy và công tác quản lí đào tạo trực thuộc phòng đào tạo của DN. Tuy nhiên, vấn đề đào tạo nhân lực khi CSĐT không trực thuộc DN đã không được đề cập đến.