CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LÁI XE CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ 1. Những vấn đề chung về đào tạo lái xe cơ giới đường bộ 1. Một số khái niệm - Quản lý: quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định. - Chủ thể quản lý: chủ thể quản lý là các cá nhân, tổ chức có một quyền lực nhất định buộc các đối tượng quản lý phải tuân thủ các quy định do mình đề ra để đạt được những mục tiêu đã định trước.
- Đối tượng quản lý: đối tượng quản lý là các cá nhân, tổ chức trong quá trình hoạt động phải chịu sự tác động bằng phương pháp quản lý và công cụ quản lý của các chủ thể quản lý để nhằm đạt được những mục tiêu quản lý do chủ thể quản lý đặt ra. - Khách thể quản lý: khách thể quản lý là trật tự quản lý mà chủ thể quản lý bằng sự tác động lên các đối tượng quản lý bằng các phương pháp quản lý và công cụ quản lý nhất định mong muốn thiết lập được để đạt được những mục tiêu định trước. - Mục tiêu quản lý: mục tiêu quản lý là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích khác mà các chủ thể quản lý mong muốn đạt được trong quá trình tác động đến các đối tượng quản lý. - Quản lý nhà nước: quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi 8 ích chung của cả cộng đồng, duy trì, ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo những định hướng thống nhất của nhà nước.
- Chủ thể quản lý nhà nước: chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước (cán bộ, công chức có thẩm quyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao). Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp theo quy định của pháp luật. - Đối tượng quản lý nhà nước: đối tượng của quản lý nhà nước bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. - Các lĩnh vực quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước có tính toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
- Công cụ quản lý nhà nước: nhà nước sử dụng các công cụ quản lý chủ yếu là pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội. - Quản lý hành chính nhà nước: quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. - Các nội dung quản lý hành chính nhà nước: Thứ nhất, hoạt động lập quy hành chính. Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các quy định pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành.
Hoạt động lập quy hành chính nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý, điều hành các 9 cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Thứ hai, hoạt động ban hành và tổ chức thực hiện các quy định hành chính. Để thực hiện quản lý, điều hành trong nội bộ các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và đối với mọi mặt của đời sống xã hội, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính. Thực hiện việc ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính giúp hệ thống hành chính vận động và phát triển theo yêu cầu chung của xã hội.
Đồng thời, ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước cũng duy trì sự vận động và phát triển của các đối tượng tham gia vào quá trình kinh tế, xã hội theo mục tiêu quản lý đã định trước. Thứ ba, hoạt động kiểm tra, đánh giá. Trong quá trình quản lý, điều hành hành chính, các cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động của các đối tượng quản lý. Việc kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động phải được tiến hành thường xuyên đối với mọi mặt hoạt động của đối tượng quản lý.
Thực hiện tốt hoạt động này sẽ đảm bảo cho hoạt động của các đối tượng quản lý được thực hiện theo đúng quy định, đồng thời phát hiện kịp thời những sai lệch, vi phạm để có biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả. Kiểm tra, đánh giá là biện pháp đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các đối tượng quản lý, góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội. Thứ tư, hoạt động cưỡng chế hành chính. Thực hiện cưỡng chế hành chính góp phần thực hiện hiệu quả các chức năng hành chính khác.
Trong quá trình điều hành, nhiều trường hợp để các đối tượng quản lý chấp hành các quy định của pháp luật, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành cưỡng chế hành chính 10 - Đào tạo: Đào tạo được xem là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo. - Đào tạo nghề: Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề. Đào tạo lái xe cơ giới đường bộ 1. Khái niệm đào tạo lái xe cơ giới đường bộ Từ những khái niệm cơ bản trên, ta có thể hiểu Đào tạo lái xe cơ giới đường bộ‟ như sau: Đào tạo lái xe cơ giới là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay những kiến thức liên quan đến lái xe cơ giới đường bộ nhằm trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết đối với các hoạt động lái xe cơ giới đường bộ để người học có thể tìm 11 được việc làm hoặc tự tạo việc làm hoặc để nâng cao trình độ lái xe cơ giới sau khi hoàn thành khóa học. Những kiến thức liên quan bao gồm các kiến thức về: luật (luật giao thông đường bộ), những kiến thức liên quan đến loại xe mình được đào tạo, những kỹ năng thực hành….Trong đó, nội dung quan trọng cần truyền đạt cho người học đó là những quy định của pháp luật về lái xe cơ giới.
Ở đây, Luật được xem là những nguyên tắc, những quy phạm về hành động xã hội. Luật giúp con người làm việc, vui chơi, giải trí…tất cả các hoạt động theo một nguyên tắc, trật tự nhất định. Việc học luật giao thông đường bộ nói chung, học luật trong lái xe ô tô nói riêng là rất cần thiết để trang bị cho người học lượng kiến thức đầy đủ khi tham gia giao thông một cách an toàn. Từ đó, các hoạt động vận hành của các loại phương tiện giao thông theo một trật tự nhất định, đảm bảo an toàn và tránh ùn tắc.
Các thủ tục và quy trình về đào tạo lái xe cơ giới đường bộ Bộ Giao thông vận tải sau nhiều năm nghiên cứu cải tiến, đã ban hành Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/4/2017 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ (có hiệu lực từ ngày 01/6/2017) có quy định rõ các thủ tục và quy trình về đào tạo lái xe như sau: Người học lái xe phải chuẩn bị hồ sơ theo quy định và phải đăng ký học tại các cơ sở đào tạo đã được cấp phép; người có nhu cầu cấp giấy phép lái xe các hạng A1, A2, A3, A4 và ô tô hạng B1 được tự học các môn lý thuyết, nhưng phải đăng ký tại cơ sở được phép đào tạo để được ôn luyện, kiểm tra; riêng đối với các hạng A4, B1 phải được kiểm tra, cấp chứng chỉ đào tạo. Người có nhu cầu cấp giấy phép lái xe các hạng B2, C, D, E và giấy phép lái xe các hạng F phải được đào tạo tập trung tại cơ sở được phép đào 12 tạo và phải được kiểm tra cấp chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo. Trong thời hạn trên 01 (một) năm kể từ ngày cơ sở đào tạo kết thúc kiểm tra, xét công nhận tốt nghiệp khóa đào tạo, nếu không kiểm tra cấp chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo thì phải đào tạo lại theo khóa học mới. Trong nhiều năm trước đây, ngành Giao thông vận tải đều có quy định rất cụ thể về hồ sơ người học lái xe.
Tuy nhiên, cũng còn quá nhiều bất cập trong các quy định này nhất là việc xác nhận đơn xin học, độ tuổi học lái xe….