CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUẢN LÝ ĐÀO TẠO, SÁT HẠCH LÁI XE 1. Những khái niệm chung 1. Khái niệm về quản lý và quản lý nhà nước 1. Khái niệm về quản lý Các tư tưởng và trường phái quản lý Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động.
Vai trò của nó đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian “Một người biết lo bằng cả kho người hay làm”. Bắt đầu từ quản lý theo kinh nghiệm, đến thế kỷ XX (đặc biệt vào những năm 40) ở phương Tây mới nghiên cứu có hệ thống vấn đề quản lý với sự xuất hiện hàng loạt công trình, như „một rừng lý luận quản lý“ rậm rạp. Những lý thuyết đó được đúc kết từ thực tiễn quản lý và thể hiện trong các tư tưởng triết học khác nhau, phát triển qua từng giai đoạn lịch sử. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Dưới đây là một số khái niệm về quản lý: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm".[1] - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.[1] - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".[1] - Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích" [1]. Học viên: Nguyễn Ngọc Trung 4 Lớp Cao học QTKD 11AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý – ĐHBK Hà Nội Khóa 2011A - Peter.
Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công" [1]. Theo nghĩa rộng: Quản lý là hoạt động có mục đích của con người, Các Mác đã nói về vai trò quản lý như người chỉ huy dàn nhạc “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung thực hiện trên qui mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”.[9] Quản lý bao giờ cũng được xem : "Là một hệ thống bao gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung".
Khái niệm về quản lý nhà nước Quản lý xã hội xét về thực chất là việc xem người điều khiển con người, là quan hệ giữa con người với con người trong quản lý. Chủ thể quản lý xã hội là con người cùng với các cơ quan do con người lập ra, trong đó Nhà nước là chủ thể chủ yếu, quyết định. Với tư cách là chủ thể quản lý, cơ quan quản lý Nhà nước thể hiện bằng quyền lực và các chuẩn mực pháp lý. Đối tượng quản lý có nghĩa vụ phục tùng.
Như vậy: "Quản lý Nhà nước là sự tác động điều khiển mang tính quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc dân chủ, có căn cứ khoa học, được tiến hành một cách liên tục nhằm làm cho các hoạt động của xã hội, các hành vi hoạt động của con người, của các tổ chức xã hội tuân theo đúng qui luật khách quan của sự phát triển xã hội". Hiệu quả của quản lý Kết quả kết quả của một quá trình quản lý là đầu ra của quá trình đó theo nghĩa chưa đề cập gì đến chi phí bỏ ra trong quá trình đó. Hiệu quả khi so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, chúng ta có khái niệm hiệu quả. Hiệu quả cao khi kết quả đạt được cao hơn so với chi phí; và hiệu quả thấp khi chi phí bỏ ra nhiều hơn kết quả đạt được.
So sánh hiệu quả và kết quả: Học viên: Nguyễn Ngọc Trung 5 Lớp Cao học QTKD 11AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý – ĐHBK Hà Nội Khóa 2011A - Hiệu quả gắn liền với phương tiện, trong khi kết quả gắn liền với mục tiêu thực hiện, hoặc mục đích; - Hiệu quả là làm được việc, còn kết quả là làm đúng việc; - Hiệu quả tỉ lệ thuận với kết quả đạt được, nhưng tỉ lệ nghịch với chi phí bỏ ra. Có thể nói rằng lý do tồn tại của hoạt động quản lý chính là vì muốn có hiệu quả; và chỉ khi nào quan tâm đến hiệu quả thì người ta mới quan tâm đến hoạt động quản lý. Quá trình quản lý 1. Hoạch định (lập kế hoạch) gồm việc định rõ những mục tiêu của tổ chức, thiết lập một chiến lược toàn bộ để thực hiện những mục tiêu và phát triển một hệ thống gồm những kế hoạch hạ cấp để tổng hợp và phối hợp những hoạt động.
Tổ chức gồm việc xác định những nhiệm vụ phải làm, ai sẽ thực hiện những nhiệm vụ đó, những nhiệm vụ đó được tập hợp như thế nào, ai báo cáo cho ai, và những quyết định được làm ra ở đâu. Lãnh đạo bao gồm việc động viên những người dưới quyền, điều khiển những hoạt động của những người khác, chọn lọc một kênh thông tin hiệu nghiệm nhất, giải quyết các xung đột, mâu thuẫn, thay đổi,… 1. Kiểm tra bao gồm các công việc theo dõi các hoạt động, so sánh với mục tiêu đặt ra và điều chỉnh, sửa chữa những sai lệch so với mục tiêu - Kiểm tra là đo đường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành. - Mục đích của kiểm tra: + Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
+ Bảo đảm các nguồn lực được sử dụng một cách hữu hiệu. + Làm bày tỏ và đề ra những kết quả mong muốn chính xác hơn theo thứ tự quan trọng. Học viên: Nguyễn Ngọc Trung 6 Lớp Cao học QTKD 11AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý – ĐHBK Hà Nội Khóa 2011A + Xác định và dự đoán những biến động và những chiều hướng chính. + Phát hiện kịp thời các sai sót và bộ phận chịu trách nhiệm để chấn chỉnh + Đơn giản hóa các vấn đề ủy quyền, chỉ huy, quyền hành và trách nhiệm.
+ Phác thảo các tiêu chuẩn tường trình báo cáo để loại bớt những gì quan trọng hay không cần thiết. + Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến việc hoàn thành công việc, tiết kiệm thời gian, công sức của mọi người. - Tác dụng của kiểm tra + Làm nhẹ gánh nặng cấp chỉ huy. + Kiểm tra lại quá trình hoạch định, tổ chức, điều khiển.
Có thể nói rằng kiểm tra là sợi chỉ xuyên suốt cả quá trình quản lý. - Các nguyên tắc để xây dựng cơ chế kiểm tra: + Căn cứ kế hoạch hoạt động và theo cấp bậc của đối tượng kiểm tra + Dựa vào đặc điểm cá nhân của nhà quản lý + Thực hiện tại những điểm trọng yếu + Khách quan + Phù hợp với bầu không khí của tổ chức + Tiết kiệm, công việc kiểm tra tương xứng với chi phí + Kiểm tra phải đưa đến hành động - Quá trình kiểm tra cơ bản: + Xây dựng các tiêu chuẩn: Định luợng, Định tính + Đo lường việc thực hiện: Đo lường, Đánh giá sai lệch + Điều chỉnh các sai lệch 1. Công tác quản lý đào tạo, sát hạch lái xe 1. Khái niệm Quản lý đào tạo, sát hạch lái xe là một hoạt động quản lý Nhà nước tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của từng ngành và theo phân cấp của Ngành Giao thông Vận tải.
Hoạt động quản lý công tác đào tạo, sát hạch lái xe của Sở GTVT Quảng Ninh bao gồm các hoạt động: kiểm tra, giám sát công tác đào tạo lái xe và cấp chứng chỉ, Học viên: Nguyễn Ngọc Trung 7 Lớp Cao học QTKD 11AQTKD-HL Viện kinh tế và Quản lý – ĐHBK Hà Nội Khóa 2011A giấy chứng nhận tốt nghiệp; Kiểm tra tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn và đề nghị Cục Đường bộ Việt Nam cấp mới, cấp lại giấy phép đào tạo lái xe ô tô hoặc điều chỉnh hạng và tăng lưu lượng đào tạo lái xe ô tô trên 20% cho các cơ sở đào tạo; Tổ chức tập huấn, cấp giấy chứng nhận giáo viên dạy thực hành lái xe theo nội dung, chương trình quy định; Lưu trữ các tài liệu như: danh sách giáo viên dạy thực hành lái xe; Sổ theo dõi cấp giấy phép xe tập lái, biên bản kiểm tra cơ sở đào tạo. Nội dung và các tiêu chí đánh giá công tác quản lý đào tạo lái xe Các nội dung và tiêu chí đánh giá về công tác quản lý đào tạo và sát hạch lái xe được quy định cụ thể tại Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải : Quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ. Quản lý đào tạo lái xe - Tiêu chuẩn về cơ sở đào tạo lái xe: Cơ sở đào tạo lái xe là cơ sở dạy nghề do cơ quan có thẩm quyền thành lập, có chức năng đào tạo lái xe, có đủ các điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn của cơ sở đào tạo lái xe theo quy định.