Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21 là nền giáo dục của xã hội học tập suốt đời cho mọi người. Quan điểm này có từ rất sớm, nó xuất phát từ quan điểm “Giáo dục bình đẳng trong tư tưởng của Mác-Ăngen cho đến tư tưởng Hồ Chí Minh đó là “Mọi người ai cũng được học hành”.
Như vậy, giáo dục không thể tách rời xã hội mà giáo dục và xã hội là một khối thống nhất. Nguyên lý “giáo dục cho mọi người – mọi người cho giáo dục” cũng như nguyên lý “học suốt đời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục - đào tạo ở nước ta nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung theo 04 tiêu chí giáo dục của UNESCO “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người” Để đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ ở các cấp trên phạm vi toàn quốc nói chung và trên địa bàn từng tỉnh, từng khu vực nói riêng thì nhu cầu đào tạo hệ vừa làm vừa học sẽ tăng rất cao trong những năm tới, đặt ra một nhu cầu rất lớn cho các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học hiện đang là một “điểm nóng” của dư luận xã hội. Trong thời gian qua có rất nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng như tại các trường đại học về thực trạng của hệ đào tạo vừa làm vừa học để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng đạo tạo của hệ này.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo vừa làm vừa học. Có rất nhiều ý kiến xoay xung quanh vấn đề này. Có ý kiến phản đối yêu cầu giảm thiểu đáng kể tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình thức đào tạo này. Bên cạnh đó đại đa số ý kiến ủng hộ chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục cho đào tạo loại hình này nhưng cần phải được “cải tổ”.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại diễn đàn “Việt Nam học tập suốt đời – xây dựng xã hội học tập”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã thẳng thắn thừa nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo hệ vừa học vừa làm còn hạn chế. Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cũng cho rằng đào tạo CĐ, ĐH hệ không chính quy của nhiều trường không chỉ mất cân đối về cơ cấu ngành nghề mà còn cả về hình thức đào tạo, trình độ đào tạo. Chính vì thế, từ năm 2011, Bộ GD&ĐT khuyến khích các trường đại học, đặc biệt là các trường ĐH tốp đầu, giảm dần quy mô đào tạo hệ vừa học vừa làm. Bộ cũng sẽ đẩy mạnh công tác kiểm tra hoạt động liên kết đào tạo theo hình thức vừa học vừa làm nhằm khắc phục và tiến tới xóa bỏ về cơ bản hiện tượng học thuê, thi thuê.
Giáo sư Phạm Phụ - giảng viên Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định chất lượng của hệ đào tạo vừa làm vừa học được nhìn từ phía đơn vị đào tạo và người học. Về phía đơn vị đào tạo, hệ vừa làm vừa học đã bị buông lỏng quản lý từ trường cho đến Bộ GD-ĐT và hệ đào tạo này được xem như “nồi cơm” của các trường, một nguồn để tăng thêm thu nhập nên đã phát triển nhanh về số lượng, liên kết đào tạo chưa chặt chẽ. Về phía người học, đa phần học viên hệ vừa làm vừa học là những người không đủ khả năng đậu vào hệ chính quy. Gọi là sinh viên tại chức là chưa đúng bởi học tại chức lẽ ra là những người đang đi làm, có lợi thế là đã trải qua công việc thực tế và có chuyên môn.
Người học tại chức cần một chương trình đào tạo mang tính thực dụng hơn (Tuổi trẻ online, số ra ngày 24/5/2010) Nhà giáo Đỗ Văn Khiêm thì cho rằng đào tạo hệ vừa làm vừa học là hình thức đào tạo linh hoạt phù hợp cho các học viên có nhiều điều kiện khác nhau. Do đó phải xác định đây là hình thức cần thiết tồn tại trong một xã hội học tập. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy nhiều khóa sinh viên hệ vừa làm vừa học, tác giả nhận thấy nội dung và cách đánh giá chất lượng của các lớp này còn nhiều vấn đề. Chương trình đào tạo thực bị cắt xén quá nhiều về số môn học lẫn số tiết học.
Giảng viên có tâm lý đánh giá thấp học viên và cho rằng học viên ít thời gian nên thường “chủ động” giảm số tiết giảng dạy, hơn nữa 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảng viên dạy ban ngày đã quá mệt rồi. Về phía học viên, đa số đi làm ban ngày đã mệt nên thường có mặt vào những tiết đầu để biết học môn gì, điều kiện thi cuối kỳ ra sao và vào những tiết cuối để xem thầy giới hạn thi chương nào. Một số học viên có quan niệm không đúng là mình học tại chức nên không cần đào sâu nghiên cứu. Đặc biệt, các trung tâm hợp tác đào tạo không muốn mất học viên nên thường dễ dãi trong đánh giá kết quả học tập.
Điều này nhiều người thấy nhưng thường không nói ra, nhất là người học. Chúng ta không cực đoan khi đánh giá văn bằng loại nào. Tuy nhiên, đến khi nào chúng ta nghiêm túc quản lý quá trình đào tạo và phương pháp đánh giá (bài thi, kiểm tra trình độ như nhau) thì hai bằng cấp hệ vừa làm vừa học và chính quy mới thực sự tương đương. Với thành phố Đà Nẵng, trong tờ trình về Kế hoạch biên chế hành chính sự nghiệp, trong đó có nội dung từ năm 2011, Đà Nẵng sẽ không tuyển dụng sinh viên hệ tại chức vào làm việc.
Ông Nguyễn Văn Quế - Giám đốc Sở Nội vụ Hải Dương cũng cho biết sẽ từ chối người có bằng tại chức. Hải Dương chỉ tuyển dụng chính quy không nằm ngoài mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Nối tiếp Đà Nẵng, Hải Dương là Nam Định và Vĩnh Phúc cũng “nói không” với hệ tại chức. Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đầu ra của sản phẩm tức là người học.
Tại sao học viên hệ vừa làm vừa học lại kém hơn sinh viên hệ chính quy và biện pháp nào để thay đổi cách nhìn của mọi người đối với hình thức vừa làm vừa học? Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ xin đề cập đến vần đề quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ VLVH của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Đây là một vấn đề hiện chưa có tác giả nào nghiên cứu. Từ những kết quả nghiên cứu về công tác quản lý đào tạo đã đạt được trong những năm qua, chúng ta có thể phân tích sâu hơn những cái được và chưa được trong công tác quản lý đào tạo nói chung và hệ VLVH nói riêng nhằm đề xuất những biện pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo hệ VLVH của nhà trường. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm đào tạo Theo Từ điển Giáo dục học, đào tạo được hiểu là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đào đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước” [20, tr. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường “Đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho học viên có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả” [15, tr. 45] Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định 1.
Hoạt động đào tạo Hoạt động đào tạo là một hoạt động chính và quan trọng nhất trong mỗi nhà trường. Hoạt động đào tạo, với quan niệm là một loại hình chuyển giao và phát triển các kiến thức, kỹ năng lao động chuyên biệt, hình thành nhân cách nghề nghiệp của con người trong một loại hình lao động nhất định đã hình thành và phát triển rất sớm. Nhiệm vụ chính của hoạt động đào tạo là: - Cung cấp tiềm năng, tiềm lực cho người học; - Cung cấp khả năng vận dụng những tiềm năng đó thành kỹ năng riêng của mình trong thực tiễn. Đào tạo được thể hiện: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đào tạo gắn với một vấn đề, một kỹ năng hoặc một dự án cụ thể - Đào tạo dạy nghề để nâng cao một tay nghề cụ thể nào đó hoặc những hành động, thao tác cụ thể để làm một việc cụ thể - Đào tạo chung để nâng cao trình độ.
Theo trình tự công việc thì hoạt động đào tạo bao gồm các nội dung sau: tuyển sinh, đào tạo, theo dõi sau đào tạo. Ở mỗi nội dung gồm các công việc cụ thể sau: - Công tác tuyển sinh: Soạn thông báo tuyển sinh, tư vấn, tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh, lập Kế hoạch tuyển sinh, thành lập Hội đồng, Ban giúp việc Hội đồng thi tuyển sinh (Ban đề thi, Ban coi thi, Ban chấm thi….), lập danh sách thi, lịch thi tuyển sinh, tổ chức thi tuyển sinh, xét điểm chuẩn, họp xét trúng tuyển, gửi giấy báo trúng tuyển, gọi nhập học.